Showing posts with label Uncategorized. Show all posts
Showing posts with label Uncategorized. Show all posts

Saturday, May 23, 2009

Học để làm gì?


Câu hỏi này không xa lạ chút nào... Chỉ có điều trả lời nó thật chẳng dễ, nó cũng giống như câu hỏi "tình yêu là gì?".

Vì là câu hỏi quen thuộc và lại khó để trả lời sao cho ai nghe cũng thấy đúng, ta đành tìm cách lãng quên. Tự dưng có lần, trên blog của anh bạn thân đang du học ở xứ hoa anh đào, anh ấy lại đi làm cái công việc là thử đưa thêm một câu trả lời cho điều này. Lại nghĩ, có khi cũng phải thử xem: học để làm gì?

Học để mưu sinh... Cái này đa số đều đồng tình, suy cho cùng, ai trong đời chẳng phải học để sống và để có cái mà sống. Lọt lòng mẹ, hẳn ai cũng phải học lật, học trườn, học bò, học chạy, rồi học ăn, học nói. Lớn lên, lại học để có cái nghề cái nghiệp. Dù đó là nghề thấp hèn hay được trọng vọng thì cũng đều phải học - dẫu ít hay nhiều. Ngay cả sinh ra đã được hưởng cả khối gia tài kếch sù và chẳng cần làm gì thì ít ra họ cũng phải học 1 thứ để sống với khối tiền đó: học cách để bảo vệ và sử dụng nó?

Học vì sự hiểu biết... Con người hơn vạn vật ở chỗ có tri thức. Vì thế, với nhiều người, để thấy mình "người hơn" thì học chính là một phương cách tốt. Biết thêm một điều gì đó dù nhỏ nhoi, với họ cảm giác như vừa bước thêm được một bước trong chuyến du hí đến thiên đường của sự hiểu biết. Vì thế, Học vì sự hiểu biết đôi khi còn được gọi theo cách hoa mỹ hơn: Học vì đam mê tri thức!

Học để được coi là kẻ sĩ... Suy cho cùng có 2 thứ trên đời này được người người tôn sùng: Sức khỏe và Sự hiểu biết (Quyền lực hay Tiền bạc thực ra cũng chỉ là những gì phái sinh từ 2 thứ này). Càng ngày, dường như cái thứ hai lại càng được coi trọng hơn. Tuy cùng mục đích là mong được coi là "kẻ sĩ", về cơ bản có thể chia làm 2 loại người chạy theo sự học kiểu này: học để thu lượm kiến thức và học để thu lượm bằng cấp!

Học cho vui... Có người coi việc học là một thú vui. Thông thường rơi vào 2 dạng người: một là có tiền, có quyền, nhưng lại không có mấy việc để làm; hai là những người đã đến tuổi nghỉ hưu. Điểm chung là với họ đi học là được lao động, là được thấy mình tồn tại có ích trong cuộc đời. Vì thế, họ đi học như một cuộc dạo chơi, biết được bao nhiêu thì biết chứ không phải là áp lực để kiếm miếng cơm, manh áo hay tranh đấu chức quyền. Loại học để làm gì này còn được gọi là Học vì chẳng còn việc gì để làm.

Học chẳng biết để làm gì... Trả lời kiểu này thì có thể là của những kẻ ngớ ngẩn, nhưng hoàn toàn có thể là của bậc cao nhân!. Đơn giản là để trả lời một câu hỏi khó như kiểu "học để làm gì?", cách tốt nhất là phủ nhận chính câu hỏi ấy. Ẩn chứa trong ấy chính là câu trả lời thú vị về sự học: học để có nhiều thứ - tiền bạc, sự hiểu biết, sự tôn trọng và vì cả niềm vui!

Saturday, May 16, 2009

Đã có một thời như thế...



Đã có một thời như thế...

Lúc còn sống, Ông bà thường nói với tôi về cái thời mà người chết chỉ mong có cái chiếu bọc lấy thân để trở về cùng đất, cùng cát bụi.

Bố mẹ vẫn thường kể về cái thuở mới yêu - vừa đạp xe vừa dắc bộ qua hàng trăm kilômét, qua bom rơi, mưa gió từ Nghệ An ra Hà Nội, với những cuộc đi kéo dài hàng mấy ngày chỉ để được gặp nhau đôi ba phút, nói dăm ba lời.

Những bạn bè thân vẫn thường nói về một thời nhiều khó khăn trong cuộc sống.

Nhiều lần tôi tự hỏi về câu chuyện của mình, về những tâm sự với con trẻ và với cả chính mình. Có lẽ, tôi sẽ nói: Đã có một thời như thế...

*
* *

Đã có một thời như thế... Xa mà sao thật gần, vẫn về bên tôi những giấc mơ mang tên "dầu Mazút"! 12 năm bên những ngọn đèn dầu. Ngày ấy, chỉ nhà nào giàu lắm mới có đủ dầu hỏa để thắp sáng, đa phần người ta dùng dầu mazút. Dầu Mazút, một loại dầu thật khó quên - màu đỏ quạch, ánh sáng le lói, khói nhiều, khi cháy có mùi khét lẹt và thi thoảng lại phải gạt đi phần ngòi bị cháy đen, vón cục đang che dần tia sáng. Thế nên, sau mấy tiếng vật lộn bài vở với loại đèn dầu này thì kết cục mặt đứa nào cũng đen nhẽm khói, còn cơ thể thì bốc mùi "mazút". Tình hình sẽ còn bi thảm hơn vào những ngày hè oi bức, vì khi đó sự pha quyện với mồ hôi sẽ tạo ra những mùi vị thật đậm đà!

Đã có một thời như thế... Mỗi bận về quê, băng qua những triền đê, những đường làng quanh co, lại nhớ cái thuở ngày ngày đạp xe vượt cả chục cây số đến trường. Ngày ấy, lịch trình mỗi ngày là tỉnh dậy vào lúc 5h sáng - khi trời còn tranh tối tranh sáng, đánh răng, rửa mặt, ăn sáng vội vàng trong tầm 10 phút rồi lên xe, đạp chừng 45 phút thì tới trường. Trưa hoặc chiều học xong lại hành trình quay ngược về nhà. Vào những ngày hè, con đường đến trường phủ đầy bụi đỏ vì thế kết thúc hành trình thường hai ống quần của lũ học trò đều nhuốm đầy màu đỏ. Gặp hôm sương giăng nhiều thì đành phó mặc cho quần sạch biến thành quần bẩn chứ không cách gì phủi đi được. Có những ngày mưa gió, gió thổi ngược như bão, ngồi lên xe cố sức đạp mà chẳng tiến được mét nào, giải pháp Việt Nam là đẩy xe xuống chân đê để vừa đi vừa tránh gió. Rồi lại có ngày sương mù dày đặc, lũ bạn bè kẻ đi trước cách người đi sau chừng 10m mà chỉ nghe tiếng nói, tiếng cười tưởng như vọng về từ bóng đêm.

Đã có một thời như thế... Thời mà lũ trẻ làng quê quan tâm đến hành trình của Trăng đến vậy. Đó là những ngày sau mùa gặt, bọn trẻ con chỉ mong đến những hôm cuối tháng âm lịch - là lúc trăng thường lên muộn. Khi ấy, cứ ăn tối, làm việc nhà như đập lúa xong, lũ con trai trong xóm lại tụ tập ra cánh đồng làng vừa gặt xong, nhờ ánh trăng để cùng quây vào nhau bên trái bóng cho tới tận nửa đêm mới trở về nhà.

Đã có một thời như thế... Thời mà người lớn thì lo lụt lội, trong khi con trẻ lại mong. Khi ấy, sau những trận lụt là vô số chim cheo bẻo, chim én ùa về làng - quả là dịp hiếm để lũ trẻ thỏa sức đam mê với việc bẫy chim bằng những que tre tẩm đầy nhựa cây. Đó cũng là khi có thể tìm những trái cây rụng hay đi bắt những tôm cá tràn bờ.

Đã có một thời như thế... thời của nhiều gian khó nhưng không hiếm niềm vui!

Friday, May 8, 2009

Khi người ta ốm...




Đôi khi cảm giác mình như cánh diều đang lên bỗng đứt dây, như quả bóng bị xì hơi, như chiếc xe đang tăng tốc chợt thủng xăm nơi sa mạc... đó thường là lúc ta nằm chèo queo ở một xó nhà mà chẳng gượng nổi để làm gì - Ốm!


Khi ốm, người ta thấy mình trở nên bất lực trước mọi tham vọng, dù đó chỉ là tham vọng rất tầm thường - ví như được uống một ly trà đá vỉa hè và ngắm dòng người, ngẫm cuộc đời!


Khi ốm, người ta thường nghĩ về sự cô đơn và thường buồn cho thân phận chính mình cũng như nhân loại. Họ nhận thấy triết lý của Phật giáo bỗng trở nên đúng hơn bao giờ hết: cuộc đời là bể khổ! Bởi suy cho cùng, cái họ còn lại sau những ngày miệt mài suy tính, bộn bề công việc chỉ là một thể xác bơ phờ.


Khi ốm, người ta thường nghĩ về "khi không ốm". Đó cũng là lẽ thường, ai chẳng thích nghĩ về thứ tốt đẹp! Trong những giấc ngủ chập chờn bởi sự chi phối của những vỉ kháng sinh, họ trở về với những bước chân con trẻ bay nhảy trên triền đê lộng gió. Sau những cơn ho sù sụ, họ nhớ da diết tiếng cười lanh lảnh năm nào dưới sân trường mùa hạ ấy.


Khi ốm, người ta thường nghĩ về giới hạn. Họ thấu hiểu cái mà nhân loại vẫn thường bảo nhau: "lực bất tòng tâm". Đó cũng là lúc họ thấy sự đúng đắn của lý thuyết "vật chất quyết định ý thức"!


Khi ốm, người ta thường nghĩ về sự nhân ái. Họ nhận ra giá trị của tình thương con người và thường quên đi những "trận chiến cuộc đời". Họ nhận ra giá trị lớn lao của sự sẻ chia - điều dường ít thấy trong những tham vọng "tư lợi" đời thường.


Khi ốm, người ta bỗng trở nên đơn giản trong kế hoạch hành động của chính mình. Họ không còn nghĩ về những điều mà cái ngày hôm qua - "ngày không ốm" thường nghĩ. Họ chỉ mơ về một điều bình dị - họ mơ được trở lại như một người bình thường!


Sau khi ốm, người ta nghĩ gì nhỉ??!

Thursday, April 16, 2009

Chia tay núi rừng...




Đã hứa với bạn bè và với cả chính mình rằng sẽ viết 1 entry về Hà Giang, về chuyến dạo chơi trên núi... nhưng loay hoay mãi với công việc, với cả những khám phá ngoài công việc để rồi 2 tuần đã qua mà vẫn chưa làm được. Chuẩn bị chia tay với miền đất địa đầu đất nước chợt nghĩ về cái tựa đề cho entry này!


Gặp gỡ rồi chia tay... âu đó cũng là lẽ thường với con người và trời đất. Thường cảm giác của lần đầu gặp gỡ đó là sự bỡ ngỡ, còn với chia tay có lẽ là sự hồi tưởng, sự lắng đọng. Vì thế, không gì tốt hơn khi viết về một vùng đất trong bối cảnh sắp chia tay!


Hà Giang... đã tự tìm cho mình vài ba thông tin và thực ra cũng đã được đến với dăm ba vùng đất của núi rừng phía bắc nhưng rồi về Hà Giang trong chuyến đi đầu tiên tới xứ này vẫn mang lại thật nhiều sự bất ngờ thú vị!


8h đồng hồ trên chuyến xe về núi... bất ngờ đầu tiên là khác với sự hình dung về những chuyến xe tới các vùng núi sẽ rất tồi tàn (mà hình như trong sách giáo khoa của mình có 1 truyện ngắn viết về 1 chuyến xe về núi cũng rất tồi tàn thì phải!) thì thực ra mình lại được ngồi trên chiếc xe khách đẹp nhất, sang trọng nhất từ trước tới nay - chiếc xe khoảng 80 chỗ ngồi hiệu Lewich gì đó của Hàn Quốc với màn hình video LCD, điều hòa mát rượi và ghế ngồi xịn như ở nước ngoài và trong phim ảnh. Nghe ông chủ xe bảo, giá của nó khoảng 2,5 tỷ và lại sửng sốt hơn khi biết là hầu hết xe lên xứ này đều đẹp và sang trọng thế. 90.000đ cho cuộc hành trình quả không phải là đắt!


Khác với đi Cao Bằng, Lào Cai hay Yên Bái, về Hà Giang chính là hành trình ngược dòng Sông Lô hùng vĩ... đã từng đi vào thơ ca với những bài hát thật hay như trường ca Sông Lô của Văn Cao hay "Sông Lô chiều cuối năm". Dù nước sông Lô mùa này không nhiều (nghe bảo tại mấy ông bạn Trung Quốc chặn đầu nguồn để làm Thủy điện nên nước lại càng ít!) nhưng nhìn lòng sông rộng với hai bên bờ sồi sụt thì đủ biết sự vĩ đại của dòng sông này đến chừng nào! Thi thoảng ta có thể bắt gặp cảnh một vài chàng trai, thiếu nữ khua mái chèo trên những con thuyền độc mộc trên sông mà tứ phía là núi rừng trùng điệp... Có lẽ để làm thơ hay thì chỉ cần lang thang xứ này mà không đến mức phải vào trường viết văn cũng được!


Rồi cuộc hành trình cũng tới đích khi bạn bắt gặp cầu Yên Biên nối đôi bờ sông Lô ở trung tâm Thị xã. Nơi đó, nếu để ý, bạn sẽ nhìn thấy Kilômét số O đánh dấu điểm đầu tiên của chiều dài đất nước... , đó có lẽ là cái cột cây số to và hoành tráng bậc nhất Việt Nam!


Thị xã Hà Giang theo hình dung của tôi và đã được xác thực bởi dân bản địa thì chính là một thung lũng. Vì thế, khí hậu của nó cũng là khí hậu đặc trưng của thung lũng với buổi sáng thì thường hơi lạnh và sương mù giăng khắp, trưa chiều thì hửng nắng còn về đêm thì nên cẩn thận đắp chăn kẻo bị ốm (, nghe đồn dân Hà nội lên đây khoảng 95% đều bị ốm không ít thì nhiều, không nhẹ thì nặng!). Là vùng rừng núi nên đất đai bằng phẳng không nhiều, vì thế những con phố chạy dọc ngang thị xã hầu hết là bé như con ngõ ở các thành phố lớn. Chả trách anh cán bộ điện lực trên này sau khi uống rượu chới với có tặng tôi câu thơ: "em cũng nhỏ, con đường cũng nhỏ"!


Hà Giang thật lắm cảnh đẹp... đi khoảng 20km ta có thể tới cửa khẩu Thanh Thủy nối Việt Nam - Trung Quốc, hay về Vị Xuyên để tắm suối khoáng. Nếu xa hơn thì với 43km vượt núi băng rừng ta sẽ về Quản Bạ để ngắm "núi đôi" đẹp như đôi gò bồng đảo của thiếu nữ! Lẽ dĩ nhiên về với "Núi đôi" bạn sẽ đi "trên mây" như lời bài hát "Hà Giang quê hương tôi" với những con đường cheo leo, gấp khúc chạy trên đỉnh núi với tứ bề mây phủ. Trên hành trình đó ta cũng có dịp đi qua Cổng Trời với độ cao 1500m so với mực nước biển. Thắng cảnh xa nhất nhưng cũng thu hút du khách nhất khi về Hà Giang chính là Cao nguyên đá Đồng Văn với bạt ngàn đá là đá (người dân trên này thường phải cho đất vào hốc đá để trồng ngô lấy lương thực thì đủ biết đá nhiều thế nào!) và cùng với đó là ngắm cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi địa đầu đất nước! Nếu lãng mạn một chút và để hiểu thêm tình yêu của dân vùng cao, ta nên dự chợ tình Khau Vai chỉ mở mỗi năm một lần vào ngày 27/3 âm lịch!


Hết ngắm cảnh đẹp thì cũng nên nghĩ tới chuyện ăn uống... Về Hà Giang, nếu thích ăn cá ta nên chọn ăn cá Bổng (thứ cá đặc sản thường sống ở Sông Lô), nghe bảo Hà Nội vừa câu được con trắm đen 27kg, nhưng chắc cũng bình thường khi chứng kiến cảnh người dân Bắc Mê trên này câu được con cá Bổng nặng tới 36kg. Nếu thích đồ rừng có thể nếm thịt cầy hương, gà rừng và thịt lợn đen vùng cao! Nói chung toàn đồ thật và rẻ! Nếu sau những chuyến đi ngắm cảnh, thêm mấy chai rượu ngô vùng cao mà ăn những thứ này ở những quán ăn cheo leo lưng chừng núi thì hẳn khi ấy ta thấy mình như những bậc đế vương!


Rồi cũng phải chia tay Hà Giang, chia tay với núi rừng, chia tay với nhiều nhiều cảnh đẹp, món ngon, điều đọng lại nhiều hơn cả hẳn là hình ảnh những con người nơi đây... Hình ảnh những chàng trai, cô gái người Dao, người Mông... và cả những người miền xuôi lên đây lập nghiệp. Họ giống nhau trong sự chất phác, nhiệt thành và hiếu khách! Tôi nhớ câu nói của anh quản lý trạm thủy điện Hà Thanh sau một cuộc hàn huyên giữa núi rừng: "Tất cả... còn lại gì?". Câu nói ấy vẫn day dứt tôi mãi trong miên man suy nghĩ về cuộc sống, về chuyến đi này... Vẫn biết chia tay Hà Giang ta lại tới những vùng đất, lại gặp gỡ... Cái còn lại sau mỗi cuộc đi là gì nhỉ? Với Hà giang, thật khó để nói trong một câu hay một từ nào đó!

Monday, March 16, 2009

Phía trước là bầu trời...



Tôi muốn viết 1 entry cho những người trẻ và cho chính mình...

Tôi muốn viết về ký ức... và về những bầu trời...


1 ngày đầu xuân, bất chợt đón những cơn gió đổi mùa rít qua khe cửa... lại nhớ... nhớ về những cơn bão thủa nào. Miền trung và Bão. Bão và Miền trung. In sâu trong lòng mỗi người dân xứ ấy là cây đổ, nhà xiêu, là những dòng nước chảy xiết, nước ngập làng. In sâu trong tôi, trong những đứa bé làng quê, sau cơn bão là thú vui đi bắt những con cá tràn bờ... Ôi hạnh phúc... đôi khi lại có thể có từ những khổ đau!


1 ngày lang thang trên núi rừng Cao Bằng, uống rượu ngô, trò chuyện cùng người Tày, người Nùng... Chợt hiểu ra rằng dù kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đang trở nên quá thân thuộc với dân Việt thì vẫn còn đó những vùng đất, những con người sống thật chân chất, thật thân tình! và chợt hiểu đôi khi tự do là lúc ta được hòa mình vào đất, vào trời, vào núi rừng ở 1 nơi không có Vinaphone, Mobiphone hay Viettel!


1 ngày ngồi cafe Hàng Hành... nhìn dòng người đi qua, ngẫm nghĩ về truyện ngắn "Cafe Hàng Hành" của Nguyễn Huy Thiệp, ngẫm nghĩ chuyện đời, chuyện mình. Chợt hiểu giá trị của thời gian và hiện thực! Người đến, người đi. Ly cafe đá cuối cùng cũng loãng dần. Cô gái bàn bên rồi cũng đi về chiếc Vespa... và rồ máy!


1 ngày đến 1 đất nước xa lạ mà bốn bề là biển khơi... chợt hiểu sự thú vị của những kiến thức địa lý. Mình đứng một mình trước biển và suy nghĩ đâu là phía tổ quốc. Mình nhìn lên bầu trời và hiểu rằng bầu trời dù ở quê mình, dù ở núi rừng, thành phố hay ở đất nước nào cũng thật giống nhau. Nhìn về phía ấy ta có thể thỏa sức nghĩ về tự do, thỏa sức ước ao, thỏa sức tìm lấy 1 vì sao cho riêng mình...


Phía trước là bầu trời... ai đó đã nói vậy khi cho tôi một lời khuyên. Vâng, phía trước là bầu trời và đằng sau là ký ức! Đôi khi gặp khó khăn, tôi vẫn tự mỉm cười: Phía trước là bầu trời!

Monday, February 16, 2009

Khúc hát sông quê...



Đây có lẽ là một trong những bài thơ về quê hay nhất của Việt Nam! Dù cho nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã rất kỳ tài khi phổ nhạc để làm nên một bài hát nổi tiếng cùng tên, nhưng có lẽ những ý tứ ẩn sau từng lời thơ mà Lê Huy Mậu viết ra còn sâu và xa hơn nữa...


Khúc hát sông quê
(Lê Huy Mậu)

Ngỡ như người đã hát thay tôi
Ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát

Tuổi thơ ơi!
Quá nửa đời phiêu dạt
Ta lại về úp mặt vào sông quê
Như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che…


Xin bắt đầu từ hạt phù sa
Ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng chạp
Ôi! Phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể, mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...


Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi
lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng, ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước…


Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta…


Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam ?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng…
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng ba…tháng năm…tháng chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng…


Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi- còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh…


Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm…
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng !…

Monday, February 9, 2009

Dân luật: Họ là ai?!



Dân Luật, họ là ai? Câu hỏi nghe cứ như tên của mấy cuốn sách viết về các lãnh tụ. Cũng đúng thôi, chúng ta đang cố đi tìm sự tóm gọn tư tưởng về một loại người.


Dĩ nhiên, chẳng phải làm từ điển nên cái định nghĩa rút ra chỉ là một sự đánh giá kiểu "cho nó vui"! Vì thế, sao không định nghĩa về dân Luật theo kiểu "nói xấu" họ nhỉ! Nhằm theo hướng đó, "loại dân" này có thể tóm gọn trong mấy từ: Cướp, Nổ và cứ mở mồm là "Nếu"!


Cướp... Trong số các loại "dân", những người thuộc giới luật thường tự xếp mình một cách khôi hài là một dạng "kẻ cướp". Chỉ có điều thứ họ cướp dường có thể nhận được sự cảm thông của mọi người: "cướp diễn đàn"! Vì cái đặc tính này mà dân tình thường bảo nhau: cứ nhìn vào một bàn nhậu, kẻ nào nói nhiều nhất thì ắt có căn duyên gì đó với giới luật rồi! Trong giới thường nghe đồn có 1 slogan rất hầm hố kiểu Abramovic của Chelsea là: "Không có gan cướp diễn đàn thì đừng nhận mình là dân Luật"!


Nổ... Ở xứ ta, một từ rất hay cũng có gắn bó kha khá với dân luật: "nổ". Đó là từ thường được dùng để diễn tả cho đôi khi sự hùng biện bị đẩy tới "cùng cực"! Đã mang cái mệnh đèo bòng luật học, hiếm ai tránh khỏi đôi phút được coi là "nổ" - trong giới họ nói vui: đó là lúc "thăng hoa"! Dẫu sao cũng có nhiều loại nổ: nổ kiểu bỏng ngô, nổ kiểu lạc rang, nổ kiểu tép mỡ... Đạt đến tầm "nổ" có nghệ thuật hay còn gọi "nổ như không" - kiểu "sắc sắc, không không" thì e rằng chỉ có những bậc đại thụ trong giới!


Nếu... Với dân luật, nói ngọng từ nào còn có thể chấp nhận được nhưng dứt khoát phải nói được từ "Nếu" thật gọn ghẽ. Đối với họ, chân lý luôn tùy thuộc hoàn cảnh và vì thế chẳng cái gì không thể, cũng như chẳng có gì là chắc chắn. Tất cả tùy thuộc vào "Nếu"! Khi hỏi dân luật, bạn yêu từ nào nhất, chắc hẳn đa số sẽ trả lời: "Nếu"! Vì thế đừng bao giờ hỏi dân luật đại loại như: chiều nay có đi uống bia không? Vì họ sẽ trả lời: Nếu có thể thu xếp được! Tốt hơn hết, bạn cứ đến gọi cho mình 1 cốc bia và... Alo!

Sunday, January 25, 2009

Người ta đi mãi thì thành đường thôi...



Những dòng chữ đầu năm với người Việt thường được trọng lắm. Nắn nót với từng con chữ, chợt nhớ câu nói tự năm nào của đại văn hào Lỗ Tấn: "Trái đất vốn chẳng có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi!".


Người ta đi mãi thì thành đường thôi... Năm mới đến, người người đều hướng về phía trước với những dự định và hoài bão. Những mong ước từ suy nghĩ rồi sẽ được trải rộng trên muôn nẻo cuộc sống đời thường. Vẫn biết sẽ có người thành công như ý, người cho là cũng được, người chưa thực sự hài lòng. Thì có hề chi, mong ước thì cứ mong ước, cuộc đời vẫn mãi là cuộc đời. Cứ nghĩ, cứ đi, để cùng nhau làm nên nhiều con đường mới đấy mới là điều đáng nói!


Người ta đi mãi thì thành đường thôi... Ước ao gì cho năm mới đây trong không gian đầy huyền ảo của thời khắc đầu năm? Nhìn những bóng đèn lung linh trong sương sớm bỗng chợt nghĩ: Hãy cứ đi trên con đường mình chọn và rồi nhiều niềm vui mới sẽ tới trong dọc chuyến hành trình hẳn là điều mơ ước của không chỉ riêng ai!

Chúc mừng năm mới!



Năm mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc, công thành danh toại!

Tuesday, January 20, 2009

Suy ngẫm về lòng người...


Cuối năm tự dưng lại có nhã hứng nghĩ về cuộc đời, về con người. Rồi tự dưng lại tìm về với cái gọi là Thiện và Ác, về những ẩn sâu và biến đổi có thể của Lòng Người. Định viết vài điều gợi nên từ suy nghĩ của chính mình nhưng có lẽ khó có câu chữ nào diễn tả được trực tiếp. Suy đi tính lại, tốt nhất xin được dẫn một câu chuyện xưa...


Câu chuyện có tên: "BỮA ĂN CHIỀU CUỐI CÙNG"


Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The Last Supper") ròng rã trong 7 năm liền. Đó chính là bức tranh nổi tiếng mô tả Chúa Jesus và 12 vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng định mệnh trước khi Chúa bị Judas phản bội.


Leonardo tìm người mẫu để vẽ rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Leonardo làm việc không mệt mỏi suốt 6 tháng cùng với người mẫu và cuối cùng hình ảnh Chúa Jesus đã hiện lên trên bức vẽ.


6 năm tiếp theo, ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn Judas - tên môn đồ đã phản bội Chúa chỉ vì 30 đồng bạc (khoảng 16,96 USD).


Họa sĩ muốn tìm 1 người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt ấy phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của mình... Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng! Bao nhiêu gương mặt xấu xa, độc ác nhất, Leonardo đều thấy chưa đủ để bộc lộ cái ác hiểm của Judas.


Một hôm, Leonardo được thông báo rằng có 1 kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông: Hắn đang ở trong hầm ngục ở Roma - bị kết án tử hình vì giết người và phạm nhiều tội ác tày trời khác.


Leonardo lập tức lên đường tới Roma. Trước mắt ông là 1 gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xòa trước mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hóa. Đúng, đây chính là khuôn mẫu Judas!


Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, kẻ tử tù được mang tới Milan - nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tử tù im lặng ngồi trước Leonardo và họa sĩ thiên tài cần mẫn với công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.


Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái Ác trong một thời gian dài, Leonardo quay sang bảo lính gác: "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính gác túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quỳ xuống bên chân Leonardo, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"


Leonardo quan sát kẻ mà suốt 6 tháng qua ông đã liên tục nhìn để vẽ. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên: "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại con! Con chính là người mà 7 năm trước ngài đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Jesus...".


Câu chuyện này là có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật! Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Jesus chỉ sau hơn 2000 ngày đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử!

Sunday, December 14, 2008

Bản quyền truyền hình Miss World 2008... nghe và tự hỏi?!

Mấy ngày qua nghe dân tình đồn đại vụ VTV "nhỡ" phát sóng chung kết "Miss World", đang ăn cơm cũng nghe VTV phát thông báo lý do nhỡ, rồi sau đó là 1 loạt báo chí đưa tin. Càng đọc, càng nghe lại càng thấy khó tin vào điều mình nghe, mình đọc. Đành mò lên Website chính thức của Đài truyền hình ngó cho chính xác. Và dưới đấy là toàn bộ vụ việc "theo như VTV":

VTV mất bản quyền chung kết Miss World 2008 dù không làm sai cam kết

Cập nhật: Layout.datetime.display('2008-12-13 13:32:16', '%date %H:%I'); 13/12/2008 13:32
Đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 diễn ra vào 22h00 ngày 13/12/2008 theo dự kiến sẽ được Đài THVN tường thuật trực tiếp trên kênh VTV3. Tuy nhiên, kế hoạch này đã không thể có cơ hội thực hiện khi RAAS – đơn vị cung cấp bản quyền cho VTV từ tổ chức Miss World đã chính thức thông báo: RAAS sẽ không tiếp tục cung cấp bản quyền đêm chung kết Miss World cho Đài Truyền hình Việt Nam, sau khi đã cung cấp bản quyền của phần thi áo tắm và thời trang. Vì sao vậy? Sự cố đáng tiếc trên đến từ những nguyên nhân khách quan ngoài tầm kiểm soát của VTV.
Hình ảnh mà RASS chụp từ Website Vietnamitv.com
Đài Truyền hình Việt Nam không vi phạm bản quyền

Tổ chức Miss World trước đó đã cung cấp bản quyền chương trình này miễn phí cho Công ty RAAS, thông qua RAAS để phát sóng miễn phí trên kênh VTV3 – Đài Truyền hình Việt Nam. Toàn bộ lợi nhuận từ việc khai thác quảng cáo của sự kiện này sẽ được RAAS góp vào quỹ “Nối vòng tay lớn” và công bố tổng số tiền thu được trong chương trình “Nối vòng tay lớn” do Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Đài THVN tổ chức vào ngày 31/12/2008.

Có được bản quyền độc quyền phát sóng phần thi thời trang, áo tắm và đêm chung kết của cuộc thi Hoa hậu thế giới, Đài Truyền hình Việt Nam đã thực hiện đúng cam kết: chỉ phát sóng phần thi thời trang trên kênh VTV3 vào khung giờ 22h00 - 23h30 ngày 10/12/2008 (ngay sau bộ phim Cô gái xấu xí) và phần thi áo tắm được phát sóng vào khung giờ 22h00 - 23h30 ngày 12/12/2008 (ngay sau bộ phim Những người độc thân vui vẻ).

Do RAAS chỉ cung cấp bản quyền cuộc thi trên sóng truyền hình nên trên Trang thông tin chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam VTV.vn, Đài Truyền hình Việt Nam cũng không cho phát trực tuyến các chương trình về cuộc thi này. Mặc dù nhận được nhiều yêu cầu của khán giả đề nghị thu lại các phần thi của cuộc thi Hoa hậu thế giới từ VTV3 để phát lại trên Website VTV.vn nhưng tôn trọng bản cam kết với RAAS, VTV cũng đã không tiến hành thu lại các chương trình này để phát lại trên Website.

Như vậy, có thể thấy được Đài Truyền hình Việt Nam đã tuân thủ tối đa các yêu cầu của nhà cung cấp bản quyền cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008. Vậy tại sao, dù đã tuân thủ đúng bản cam kết, VTV vẫn không thể có được bản quyền của đêm chung kết Miss World?

Hành vi sai trái của một số Website đã phá hỏng tất cả…

Theo lá thư của ông Hoàng Kiều, chủ tịch – giám đốc điều hành công ty RAAS gửi đại diện Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình, Đài Truyền hình Việt Nam TVAD vào sáng nay, ngày 13/12/2008, sự việc đã phần nào được làm rõ.

Theo giám sát của RAAS, một số các Website tại Việt Nam đã tự ý thu lại tín hiệu các phần thi của cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 từ VTV3 để phát trực tuyến trên Wesite của mình. Có trang Web, thậm chí còn thu lại chương trình để lưu trữ trên Web và tiến hành phát lại. Với việc các phần thi của cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 bị đưa lên mạng, tất cả mọi nơi trên thế giới dù kể cả không có được bản quyền cuộc thi này cũng vẫn có thể xem được chương trình. Bất kể vì mục đích nào, việc làm trên có thể nói đã vi phạm nghiêm trọng bản quyền truyền hình cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008. RAAS đã phản ứng khá gay gắt trước hiện tượng này và kết cục là đi tới quyết định ngừng cung cấp bản quyền phát sóng đêm chung kết Miss World 2008 cho VTV. Như vậy, VTV đã bị thiệt, khán giả Việt Nam đã bị thiệt bởi một nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của VTV.

Trong lá thư gửi đại diện tvAD, đại diện công ty RAAS viết: “RAAS và tổ chức Hoa hậu thế giới cũng rất thiện chí và ưu ái Việt Nam khi để chương trình diễn ra vào 17h tại Nam Phi, tức khoảng 22h tại Việt Nam - thời gian mà phần lớn người dân sinh sống tại Việt Nam có thể thưởng thức chương trình. Tuy nhiên, mọi thiện chí và mong muốn của chúng tôi đã hai lần bị website VIETNAMITV làm hỏng với việc cho phát trực tiếp tín hiệu từ VTV3 trên website của mình. Mặc cho RAAS và VTV3 đã gửi đề nghị không được tiếp tục thu tín hiệu VTV3 và phát lại trên Internet hay bất kì hình thức nào nhưng VIETNAM ITV phớt lờ lời cảnh báo của chúng tôi và tiếp tục cho phát trên Internet”.

Trên thực tế, trong chương trình phát sóng phần thi áo tắm cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 vào 22h15 12/12/2008, Đài THVN đã cho chạy dòng chữ (bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt) với nội dung: Bản quyền chương trình này thuộc về Đài Truyền hình Việt Nam. Mọi hình thức thu phát lại chương trình này trên sóng và trên Internet đều vi phạm bản quyền. Đơn vị cung cấp bản quyền đã có phản ứng trước những vi phạm bản quyền.

Website http://www.vietnamitv.com đã cho phát trực tuyến trái phép chương trình này lần đầu tiên vào ngày 10/12/2008. Mặc dù RAAS và cả Đài Truyền hình Việt Nam đã có cảnh báo đối với đại diện của trang Web nhưng đến ngày 12/12/2008, sự việc vi phạm lại một lần nữa được tái diễn.

Trong bức email gửi Vietnam ITV của ông Hoàng Kiều, ông Kiều đã viết: “Bạn đang vi phạm nghiêm trọng của bản quyền phát sóng cuộc thi Hoa hậu Thế giới vào ngày 10/12/2008 được phát trên kênh VTV3. Chúng tôi đã có email yêu cầu VTV3 thông báo cho VIETNAM ITV ngưng việc này nhưng, tới chương trình Cuộc thi Hoa hậu Biển phát 22h15 12/12/2008, VIETNAM ITV tiếp tục vi phạm. Do vi phạm của VIETNAM ITV, tổ chức Hoa hậu Thế giới đã không cho phép VTV3 phát trực tiếp cuộc thi vào 22h 13/12/2008 tại Việt Nam. Bạn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với hành động này, trước Tổ chức Hoa hậu Thế giới, trước người dân và chính phủ Việt Nam.”

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của phóng viên VTV.vn, không chỉ có Vietnamitv.com vi phạm bản quyền truyền hình cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 bằng việc làm trên. Tại Việt Nam, không ít các trang Web khác cũng đã cho phát trực tuyến các phần thi của Miss World 2008 thu trái phép từ sóng VTV3. Có thể kể đến các Website VTC.com.vn, PDA.vn, Clip.vn (tại trang Web Clip.vn, tại thời điểm chúng tôi viết bài viết này, vẫn đang còn các video về cuộc thi này tại đị chỉ http://clip.vn/watch/Hoa-hau-Mexico-dang-quang-Hoa-hau-ao-tam-tai-Miss-World-2008/WdT6,vn?fm=1(cập nhật: Hiện nay, các clip về cuộc thi Hoa hậu thế giới 2008 đã được Clip.vn gỡ bỏ - PV).

Đây là lần thứ hai Đài Truyền hình Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng bản quyền truyền hình cuộc thi Hoa hậu thế giới. Còn nhớ năm 2006, Đài Truyền hình Kĩ thuật số VTC tự ý thu sóng từ kênh Star World và phát sóng chương trình trên kênh VTC1 trong khi VTV mới là đơn vị có được bản quyền độc quyền phát sóng Miss World 2006 trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Thiệt đủ đường

Việc RAAS ngừng cung cấp bản quyền truyền hình đêm chung kết Miss World 2008 cho VTV là một sự cố đáng tiếc. Sự cố ấy đã lại một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động về vấn đề vi phạm bản quyền các chương trình truyền hình tại Việt Nam.

Không được tường thuật trực tiếp đêm chung kết Miss World 2008, Đài Truyền hình Việt Nam là đơn vị đầu tiên bị thiệt hại về uy tín (dù cho đó là xuất phát từ nguyên nhân khách quan). Sau VTV, các khán giả xem truyền hình tại Việt Nam là người chịu thiệt khi không thể trực tiếp chứng kiến đêm chung kết Miss World 2008 – một sự kiện văn hóa lớn được chờ đợi từ rất lâu.

Số tiền quảng cáo mà VTV dự kiến thu được từ chương trình TTTT đêm chung kết để chuyển đến quỹ “Nối vòng tay lớn” giúp đỡ người nghèo, do dự cố trên cũng đã “tiêu tan”. Và cho đến lúc này, những người nghèo tại Việt Nam là đối tượng tiếp theo bị ảnh hưởng từ sự cố. Thiện ý của tổ chức Hoa hậu thế giới Miss World, của RAAS, của VTV đối với những người nghèo, cuối cùng lại bị hành động vi phạm bản quyền của một số Wesite phá hỏng.

Cuối cùng, từ sự cố trên, hình ảnh của Việt Nam trong vấn đề bản quyền lại một lần nữa bị làm tổn hại. Câu hỏi được đặt ra đến bao giờ tại Việt Nam, những sự việc vi phạm đáng tiếc như trên mới ngừng xảy ra?

Q.Thắng - M.Châm
Đôi dòng tự hỏi:
Theo như nội dung bài viết trên và tất cả thông tin tới nay thì về mặt luật học có thể tóm gọn thế này:
1, Bản quyền phát sóng Miss World thuộc về RAAS và RAAS đã tặng lại cho VTV;
2, Lý do RAAS và Tổ chức Miss World (???, chắc là chỉ còn RAAS vì theo như thông tin thì bản quyền phát sóng đã được Miss World tặng cho RAAS) đưa ra để không cho VTV phát sóng đêm chung kết là vì website "VIETNAMITV" thu và phát trái phép chương trình này.
Với cách giải thích như vậy khiến người ta thấy vô cùng khó hiểu: Vì sao VIETNAMITV vi phạm mà lại tước quyền phát sóng của VTV???
Điều này nghe chừng quá đỗi vô lý xét về góc độ pháp lý, trừ phi trong hợp đồng mà Miss World tặng cho RAAS hoặc/và RAAS tặng cho VTV bản quyền phát sóng có điều khoản đòi hỏi bên phát sóng phải có trách nhiệm "bảo vệ" sóng - không cho các cá nhân, tổ chức khác được thu phát lại bất hợp pháp, nếu không "bảo vệ" được thì sẽ bị đình chỉ hợp đồng.
Theo như giải thích của VTV thì không thấy có nói tới chuyện này. Mà nếu có chuyện này thì quả là một điều khỏan kỳ lạ và "quá sức" với VTV trong bối cảnh vi phạm bản quyền phổ biến như ở VN!!! Trong trường hợp có điều khỏan vậy thì trách nhiệm khi đánh giá điều khỏan hợp đồng dù là hợp đồng "tặng cho" của VTV cũng cần phải được tính đến nếu không sự "bị động" như vừa rồi là chuyện tất yếu xảy ra và như thế VTV có thể coi là "không có lỗi" hay không?!.
Trong trường hợp không có điều khoản trên (mà có lẽ là không có, vì nếu có thì trong lời giải thích của VTV đã nhắc tới việc này!) thì cách giải thích như VTV sẽ có thể được "nôm na hóa" theo một mô hình đơn giản hơn và khá "nực cười" như sau:
Nhạc sỹ A cho ca sỹ B hát độc quyền bài hát của mình sáng tác. Vì ca sỹ C tự ý hát bài hát này cho dù ca sỹ B không đồng ý mà nhạc sỹ A không cho phép ca sỹ B hát bài đó của mình nữa???
Lời giải thích của VTV nghe chừng hơi khó hiểu - ít nhất là với giới luật học?!!

Friday, October 17, 2008

Bầu cử tổng thống Mỹ...

Bầu cử tổng thống Mỹ - gian nan và vinh quang![1]


Đến hẹn lại lên, cứ bốn năm một lần không chỉ người Mỹ mà cả thế giới lại tốn chẳng biết bao nhiêu giấy bút và thời gian dõi theo cuộc bầu cử tổng thống của cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới này. Năm nay cũng vậy, dẫu cho khủng hoảng tài chính đang là chủ đề nóng cho toàn thế giới nhưng nó cũng không làm nguội đi bao nhiêu cuộc chiến đang vào hồi kết giữa hai ứng viên tổng thống John Mc Cain và Barack Obama. Trước khi đón chờ một vị tân tổng thống mới của nước Mỹ, thử nhìn lại đôi nét chủ đạo của cả một chặng đường bầu cử chông gai.


Để trở thành ứng viên tổng thống


Theo quy định của Hiến pháp Mỹ (nêu rõ tại điều I và II), một người muốn ứng cử vào ngôi vị tổng thống thì phải thỏa mãn 3 điều kiện cơ bản: công dân Mỹ, ít nhất 35 tuổi, cư trú tại Mỹ ít nhất 14 năm. Thêm vào đó, với Điều sửa đổi, bổ sung thứ 22 của Hiến pháp Mỹ được phê chuẩn năm 1951, tổng thống Mỹ không được nắm quyền quá hai nhiệm kỳ. Vì lẽ đó, đương kim tổng thống George W. Bush không thể tiếp tục ra tranh cử cho nhiệm kỳ sắp tới.


Chỉ định ứng cử viên tổng thống


Hiến pháp Mỹ không có quy định nào đề cập về các nguyên tắc chỉ định ứng viên tổng thống của các đảng phái chính trị. Đơn giản vì vào giai đoạn soạn thảo cũng như phê chuẩn Hiến pháp (cuối những năm 1700) thì chưa có bất kỳ đảng phái nào và những người sáng lập nền cộng hòa ở Mỹ cũng không quan tâm đến việc quy định thủ tục đối với các đảng phái chính trị.


Tới đầu năm 1796, các nghị sĩ Mỹ thuộc các đảng phái nhất định đã tiến hành nhóm họp không chính thức để đề cử ứng viên tổng thống và phó tổng thống của đảng mình. Hệ thống bầu chọn ứng viên kiểu này còn được gọi là cuộc họp kín của nhà Vua đã kéo dài trong suốt 30 năm trước khi bị phá vỡ vào năm 1824 bởi việc phi tập trung hóa quyền lực chính trị sau khi nước Mỹ mở rộng về phía Tây. Sự lựa chọn tiếp theo và hiện đang được vận hành để lựa chọn ứng viên tổng thống chính là đại hội toàn quốc của các đảng. Sự kiện đánh dấu cho lựa chọn kiểu này bắt đầu vào năm 1831 khi Đảng Anti-Mason, một đảng nhỏ ở Mỹ đã tổ chức họp tại một quán rượu ở thành phố Baltimore thuộc Bang Maryland để chọn ra ứng viên tổng thống. Chỉ một năm sau đó, Đảng dân chủ cũng họp tại quán rượu này để lựa chọn ứng viên của mình. Dần dần việc họp - đại hội toàn quốc của các đảng để chỉ định ứng viên tổng thống đã trở nên quen thuộc cho từng kỳ bầu cử.


Đại hội toàn quốc của các đảng


Trong suốt hai thế kỷ XIX, XX, các đại hội chỉ định ứng viên tổng thống thường bị chi phối bởi lãnh đạo của đảng tại các Bang. Họ dùng ảnh hưởng của mình để chọn đại biểu đi dự đại hội của Bang và chắc chắn rằng những đại biểu này sẽ bỏ phiếu theo như mình dự kiến tại đại hội đảng toàn quốc. Do gặp phải sự phản đối từ công chúng, yêu cầu về cải cách quy trình lựa chọn này đã được đặt ra theo hướng cử tri được bầu đại biểu dự đại hội đảng toàn quốc. Các cuộc bầu cử sơ bộ (của Đảng) đã ra đời để thực hiện sứ mệnh đó. Cho dù khởi nguồn từ năm 1916 và bị thui chột trong một thời gian ngắn từ sau thế chiến thứ nhất, nhưng với tiến trình gia tăng dân chủ từ sau thế chiến thứ hai việc bầu cử sơ bộ lại tiếp tục được hồi sinh và tiếp tục cho tới ngày nay. Hiện hầu hết các Bang ở Mỹ đều tiến hành bầu cử sơ bộ để lựa chọn đại biểu tham gia đại hội đảng toàn quốc. Tùy thuộc pháp luật của mỗi Bang mà cử tri có thể bỏ phiếu bầu ứng viên tổng thống của đảng và bỏ phiếu bầu vào một danh sách các đại biểu cam kết, hoặc cũng có thể gián tiếp bỏ phiếu cho một ứng viên trong một cuộc họp kín bằng việc bầu chọn đại biểu dự đại hội đảng toàn quốc và những đại biểu này có sự cam kết ủng hộ ứng cử viên nhất định nào đó. Khác với việc bầu cử sơ bộ đơn thuần, theo quy trình họp kín, những cử tri sống tại một khu vực địa lý nhỏ (khu vực bầu cử địa phương - xã, phường) sẽ họp để bỏ phiếu bầu các đại biểu - những người đã có cam kết về việc sẽ ủng hộ ứng viên tổng thống cụ thể. Sau đó, các đại biểu được chọn sẽ đại diện cho các khu vực của mình để dự đại hội của Hạt để tiếp tục chọn ra các đại biểu tham gia đại hội đề cử của Quận và của Bang. Những đại biểu dự các đại hội cuối cùng này sẽ bầu các đại biểu đại diện cho Bang tại đại hội đảng toàn quốc. Cho dù quy trình này có thể kéo dài khá lâu - trong vài tháng, nhưng thực tế cho thấy các ứng viên được ưa thích thường được quyết định ngay từ vòng bỏ phiếu đầu tiên.


Cũng như những cuộc bầu cử trước đó, năm nay việc bầu cử sơ bộ hay tiến hành họp kín ở các Bang để lựa chọn các đại biểu đi dự đại hội toàn quốc của từng đảng phái đã diễn ra từ tháng 1 đến tháng 6. Đại hội toàn quốc của hai đảng dân chủ và bảo thủ cũng đã được tổ chức để chọn ra ứng viên tổng thống của họ. Dù gọi là đại hội, nhưng thực ra nó chỉ là hoạt động mang tính hình thức, bởi lẽ từ những năm 70 đến nay, trước khi diễn ra đại hội của các đảng phái chính trị thì dân chúng đã biết chắc ai sẽ là ứng cử viên tổng thống. Mc Cain và Obama cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế, các đại hội ngày nay chỉ như một buổi ra mắt chính thức ứng viên tổng thống của đảng, bí mật được tiết lộ có chăng chỉ là gương mặt của ứng viên phó tổng thống. Tuy thế, với sự quan tâm đặc biệt của công chúng tới sự kiện này, Đại hội đảng chính là một dịp quan trọng để quảng bá hình ảnh của ứng viên tổng thống.


Tổng tuyển cử...


Người Mỹ không bỏ phiếu bầu trực tiếp tổng thống mà bỏ phiếu trong phạm vi từng Bang để bầu lên một nhóm đại cử tri - những người cam kết sẽ bầu cho ứng cử viên tổng thống cụ thể. Số đại cử tri tương ứng với số thành viên Quốc hội của Bang đó, tức là bằng số hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ của Bang. Để dành được chức tổng thống thì ứng cử viên phải có được ít nhất 270 trong tổng số 538 phiếu đại cử tri của 50 Bang (bao gồm cả 3 phiếu đại cử tri của Thủ đô Washington thuộc Quận Columbia - dù đây không phải là một Bang và cũng không có đại diện có quyền bỏ phiếu nào tại Quốc hội).


Vào ngày tổng tuyển cử, tại mỗi Bang, các cử tri phổ thông bầu chọn một danh sách gồm các ứng cử viên đã được chọn sẳn cho vị trí đại cử tri tổng thống mà đại diện cho nhiều ứng viên tổng thống khác nhau. Tuy nhiên, lá phiếu Bang được thiết kế giống như là các cử tri phổ thông đang thật sự bầu trực tiếp cho ứng cử viên tổng thống. Đa số Bang sử dụng lá phiếu vắn tắt mà trong đó khi một lá phiếu bỏ cho một đảng nào (ví dụ Đảng Dân chủ hoặc Đảng Cộng hòa) thì được coi là một lá phiếu cho toàn thể nhóm đại cử tri tổng thống thuộc đảng đó. Tại những Bang này, hiếm khi ngoại lệ, một đảng sẽ chiếm hết toàn bộ số phiếu đại cử tri của Bang đó (theo hình thức đa số hay tuyệt đối). Riêng tại Maine và Nebraska thì hai đại cử tri được bầu lên thông qua bầu phiếu phổ thông trên toàn bang, những đại cử tri còn lại được bầu thông qua bầu phiếu phổ thông tại mỗi khu vực bầu cử quốc hội của các bang đó (mỗi khu vực sẽ chọn ra một đại cử tri).


Sau 41 ngày kể từ ngày tổng tuyển cử, các đại cử tri tổng thống của mỗi Bang (và Quận Columbia) họp lại để thực hiện việc bỏ phiếu đại cử tri. Hầu hết các đại cử tri tổng thống đều sẽ bỏ phiếu cho ứng viên tổng thống thuộc đảng của mình. Tuy nhiên vẫn có thể xảy ra trường hợp đại cử tri thuộc Đảng lại bầu cho ứng viên thuộc Đảng khác - họ được gọi là "đại cử tri không trung thành".


Một tháng sau khi bỏ phiếu đại cử tri, Quốc hội Mỹ tiến hành nhóm họp cả Hạ viện và Nghị viện để tuyên bố người đắc cử. Ứng cử viên nhận được 270 hoặc nhiều hơn số phiếu đại cử tri tổng thống sẽ trở thành tổng thống đắc cử. Hiến pháp Mỹ cũng quy định rằng, nếu không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu đại cử tri, Hạ viện sẽ phải quyết định. Theo đó, tất cả các hạ nghị sĩ của mỗi Bang sẽ phải bỏ phiếu với tư cách một đơn vị. Mỗi Bang và Quận Columbia được phân bổ một lá phiếu duy nhất.


Như vậy, phiếu bầu phổ thông của các cử tri không có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn tổng thống mà ứng viên đắc cử sẽ phụ thuộc vào số phiếu đại cử tri có được ở từng Bang. Thực tế đã có 17 cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ người thắng cử không phải là người giành được đa số phiếu phổ thông. Nhân vật đầu tiên là John Quincy Adams vào năm 1824 và gần nhất chính là đương kim tổng thống George W. Bush trong cuộc tổng tuyển cử năm 2000.


Đôi dòng đọng lại...


Theo một quy trình bầu cử rất đặc biệt ở một xứ sở đặc biệt, người Mỹ chọn cho mình ngày thứ ba đầu tiên sau ngày thứ hai đầu tiên của tháng 11 là ngày bầu cử chính thức trên toàn quốc. Năm nay cũng vậy, chỉ còn vài tuần nữa, dù đã trải qua hai vòng tranh luận trực tiếp về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội giữa Mc Cain và Obama, dường như dự đoán về nhân vật quyền lực số 1 của nước Mỹ nhiệm kỳ tới vẫn còn quá nhiều ẩn số. Chờ đợi kết quả kiểm phiếu của từng Bang trong sự hồi hộp của quá trình gom phiếu đại cử tri chính là những khoảnh khắc thú vị cho không chỉ hai ứng cử viên mà của cả triệu triệu người trên hành tinh này trong những ngày sắp tới. Chiến thắng trong cuộc lựa chọn ứng viên của Đảng đã là vinh quang, nhưng chưa đủ, cần thêm một chiến thắng nữa tại trận tuyến đại cử tri. Tổng thống Mỹ - nhân vật quyền lực nhất của cường quốc số 1 thế giới dường như là phần thưởng xứng đáng để vinh danh người đã vượt qua cả một chặng đường bầu cử gian nan!









[1] ThS luật học Nguyễn Bá Bình, Giảng viên, Thư ký Trung tâm nghiên cứu pháp luật Châu Á - Thái Bình Dương, Đại học Luật Hà Nội.

Wednesday, October 1, 2008

Thủ tục xuất nhập khẩu...


Cẩm nang pháp luật của doanh nghiệp

- Thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu

Tác giả : Ths Nguyễn Bá Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc

Nhà xuất bản Tư pháp - Bộ Tư pháp


GIỚI THIỆU

Khi kinh tế ngày càng phát triển thì sự giao thương kinh tế cũng diễn ra càng sâu, rộng. Các doanh nghiệp được tự chủ hơn trong việc tìm hướng đi thích hợp cho mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là trong hoạt động xuất, nhập khẩu. Đây là một trong những quyền năng được doanh nghiệp hết sức quan tâm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.


Với mong muốn cung cấp cho bạn đọc, đặc biệt là các doanh nghiệp, những thông tin hữu ích về thủ tục hải quan đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn sách “Thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu”.


Đây là cuốn sách hướng dẫn đầy đủ, chi tiết các thủ tục xuất, nhập khẩu theo quy định của pháp luật hiện hành.



BỐ CỤC


Phần I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN
VÀ CHẾ ĐỘ KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN

I. Khái niệm về thủ tục hải quan và chế độ kiểm tra, giám sát hải quan


II. Khai hải quan và chế độ đăng ký khai hải quan


III. Xuất trình đối tượng kiểm tra hải quan và chế độ kiểm tra đối chiếu hải quan


IV. Nộp - thu thuế và nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật


V. Thông quan hàng hoá, phương tiện vận tải


VI. Thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu


VII. Nguyên tắc, địa điểm tiến hành thủ tục hải quan


VIII. Quá trình phát triển của pháp luật quy định về thủ tục hải quan


Phần II

THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI CÁC LOẠI HÌNH
XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ

Mục I

Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa

xuất khẩu, nhập khẩu thương mại

I. Khái quát chung về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại


II. Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại


III. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại


IV. Vấn đề quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại


V. Thủ tục hải quan đối với một số loại hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại


Mục II

Thủ tục hải quan Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo các loại hình khác

I. Hàng hoá xuất, nhập khẩu tại chỗ


II. Hàng hoá bán tại cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế


III. Hàng hoá xuất, nhập khẩu theo đường bưu chính


Mục III

Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
không nhằm
mục đích thương mại

I. Khái quát chung về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại


II. Thủ tục hải quan đối với một số loại hàng hóa phi mậu dịch


Mục IV

Thủ tục hải quan đối với hàng hóa chuyển cảng,
chuyển cửa khẩu, quá cảnh

I. Hàng hóa xuất, nhập khẩu chuyển cảng


II. Hàng hoá xuất, nhập khẩu chuyển cửa khẩu


III. Hàng hoá quá cảnh


Mục V

Thủ tục hải quan đối với hàng hoá đưa vào, đưa ra cảng trung chuyển, khu thương mại tự do, khu phi thuế quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế

I. Hàng hoá đưa vào, đưa ra cảng trung chuyển


II. Hàng hoá đưa vào, đưa ra khu thương mại tự do, khu phi thuế quan (gọi tắt là khu thương mại tự do)


III. Hàng hoá đưa vào, đưa ra kho ngoại quan


IV. Hàng hóa đưa vào, đưa ra kho bảo thuế


Phần III

THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI
XUẤT CẢNH, NHẬP CẢNH VÀ QUÁ CẢNH

I. Khái quát chung về phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh


II. Thủ tục hải quan đối với các loại phương tiện vận tải xuất, nhập cảnh


Phần IV

QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ
XUẤT, NHẬP KHẨU TRONG CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ HẢI QUAN MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN

I. Xu hướng phát triển của Hải quan thế giới


II. Các Điều ước quốc tế về Hải quan


1. Công ước về thành lập Hội đồng hợp tác hải quan


2. Công ước Kyoto về đơn giản hoá, hài hoà hoá thủ tục hải quan


3. Công ước HS - Hệ thống điều hoà trong mô tả và mã hoá hàng hoá


4. Hiệp định CVA - Hiệp định định giá hải quan

5. Hiệp định Hải quan ASEAN

Bảo hộ quyền tác giả...


Công ước Berne 1886 - công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả


Nhà xuất bản Tư pháp - Bộ Tư pháp


GIỚI THIỆU


Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đã và đang thực sự là “chủ đề nóng” cho không chỉ giới luật học mà còn của các nhà văn, nhà thơ, nhà xuất bản… Điều này cũng thật sự dễ hiểu khi chúng ta đang sống và làm việc trong nền kinh tế tri thức - nơi mà hơn lúc nào hết giá trị của chất xám, của những tài sản vô hình được tôn vinh. Cũng cần thấy rằng, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chỉ cần một cú “kích chuột” trong vài giây bạn đã có thể nhận hàng loạt thông tin, đọc được vô số bài viết của tác giả các nước khắp nơi trên thế giới, bạn cũng có thể dễ dàng truyền đi các tác phẩm của mình để chia sẻ với hàng trăm triệu công dân trên thế giới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu về bảo hộ một cách hữu hiệu quyền tác giả không chỉ trong phạm vi của một quốc gia mà trên khắp toàn cầu là một điều tất yếu. Nghiên cứu về bảo hộ quyền tác giả, đặc biệt là bảo hộ quyền tác giả ở phạm vi liên quốc gia để có thể bảo hộ hợp lý quyền và lợi ích của các tác giả trong nước, tránh được các tranh chấp về quyền tác giả với các quốc gia khác và giúp các nhà xuất bản có thể ký hợp đồng và xuất bản được các tác phẩm nước ngoài một cách thuận lợi rõ ràng là những nghiên cứu vô cùng hữu ích.


Với sự kiện Việt Nam gia nhập công ước đầu tiên trên thế giới về bảo hộ quyền tác giả, Công ước Berne được đánh giá là một trong những trụ cột để bảo hộ quyền tác giả ở nước ta. Công ước Berne chính thức có hiệu lực ở Việt Nam từ hơn một năm qua, là một Công ước với nhiều nội dung vẫn đang là chủ đề tranh luận sôi nổi của các nhà nghiên cứu và thực thi pháp luật. Với mục đích góp phần từng bước làm rõ các quy định của Công ước, tạo điều kiện để bạn đọc tiếp cận, vận dụng nội dung của Công ước trong sự so sánh với pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn “Công ước Berne 1886 - Công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả” của Thạc sỹ luật học Nguyễn Bá Bình, cán bộ giảng dạy tại Khoa luật quốc tế và kinh doanh quốc tế thuộc đại học Luật Hà Nội và Phạm Thanh Tùng, chuyên viên Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam. Nhà xuất bản Tư pháp và các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa nội dung cuốn sách cho lần xuất bản tiếp theo.



BỐ CỤC


Phần thứ nhất

KHÁI LƯỢC VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

VÀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

Phần thứ hai

KHÁI QUÁT VÈ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

CỦA CÔNG ƯỚC BERNE

Phần thứ ba

NHỮNG NỘI DUNG CẦN HIỂU RÕ

ĐỂ VẬN DỤNG TỐT CÔNG ƯỚC BERNE

Phần thứ tư

VẬN DỤNG CÔNG ƯỚC BERNE

TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP THỰC TẾ

Phụ lục 1

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Phụ lục 2

Những điều khoản đặc biệt dành cho các nước đang phát triển

Phụ lục 3

Danh mục các quốc gia thành viên công ước Berne

Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp...


Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam - pháp luật và thực tiễn


Nxb Tư pháp - Bộ Tư pháp


GIỚI THIỆU


Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, sự gia tăng, đa dạng của các loại hình sản phẩm, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng của sản phẩm, mà ngày một chú trọng hơn đến hình thức của sản phẩm. Do vậy, các doanh nghiệp đều mong muốn tạo ra nhiều sản phẩm với kiểu dáng công nghiệp tối ưu, thu hút được sự quan tâm của công chúng; việc đầu tư vào nghiên cứu, triển khai áp dụng các kiểu dáng công nghiệp mới ngày một được chú trọng. Khi kiểu dáng công nghiệp là một trong những lợi thế cạnh tranh, thì đồng thời những hoạt động nhằm “cướp đoạt” thành quả của người khác sẽ xuất hiện - sử dụng kiểu dáng công nghiệp của doanh nghiệp khác đầu tư vào sản phẩm của mình xảy ra ngày một nhiều, dưới các hình thức tinh vi. Bởi lẽ kiểu dáng công nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng mang lại “sức thu hút” của sản phẩm, tuy nhiên nó lại không phải là bí mật, rất dễ bị sao chép. Thực tế rất nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất chân chính đã bị “nhái” lại kiểu dáng công nghiệp, gây nhiều thiệt hại về kinh tế, uy tín của doanh nghiệp.


Để đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh lành mạnh, một sự phát triển kinh tế bền vững, yêu cầu về sự hình thành và tăng cường cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp bằng pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả kiểu dáng công nghiệp, các doanh nghiệp là chủ sở hữu hợp pháp kiểu dáng công nghiệp và đồng thời bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là yêu cầu cần thiết.


Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong công tác xây dựng pháp luật, nhưng pháp luật về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của Việt Nam vẫn thực sự còn nhiều hạn chế, bất cập. Các quy định về kiểu dáng công nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong chương quy định về sở hữu trí tuệ của Bộ luật dân sự. Việc tiến hành bảo hộ kiểu dáng công nghiệp trên thực tế chủ yếu chỉ dựa vào các văn bản dưới luật của Chính phủ và các bộ liên quan. Nhưng xét về hiệu lực của các văn bản này thì không cao, hơn nữa lại không có tính ổn định lớn và còn rất sơ lược. Chính vì vậy, một trong những nhu cầu cấp bách đặt ra là cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam, trong đó có chú ý tới sự tương thích với các điều ước quốc tế và thông lệ phổ biến của thế giới để tạo tiền đề thuận lợi cho công cuộc hội nhập kinh tế - quốc tế ở nước ta.


Trước đòi hỏi đó, Nhà xuất bản Tư pháp giới thiệu với bạn đọc ấn phẩm “Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam - pháp luật và thực tiễn”. Dưới góc độ khoa học pháp lý, đây là một cuốn sách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần hoàn thiện pháp luật và hoạt động thực thi bảo hộ về quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!



BỐ CỤC


Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KDCN VÀ BẢO HỘ KDCN


I. Khái niệm KDCN


II. Tiêu chí bảo hộ KDCN


III. Phân loại KDCN


IV. Các chức năng của KDCN


V. Mối quan hệ giữa KDCN với sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá và đối tượng của quyền tác giả


VI. Bảo hộ quyền sở hữu KDCN



Chương II

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ KDCN Ở VIỆT NAM


I. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ KDCN ở Việt Nam


II. Khung pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ KDCN


III. Các biện pháp thực thi pháp luật bảo hộ quyền sở hữu KDCN



Chương III

THỰC TIỄN BÀO HỘ KDCN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VIỆC BẢO HỘ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

I. Thực tiễn bảo hộ KDCN ở Việt Nam


II. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ KDCN ở Việt Nam


III. Một số kiến nghị hoàn thiện việc thực thi pháp luật bảo hộ KDCN ở Việt Nam



Kết luận


Phần Phụ lục

Wednesday, September 3, 2008

Nuôi con nuôi quốc tế - một chút tản mạn...


GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAYE 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ - MỘT ĐÒI HỎI MANG TÍNH CẤP BÁCH CỦA VIỆT NAM


Nguyễn Bá Bình[i]


Xen lẫn trong những câu chuyện kinh doanh của thời hội nhập, nuôi con nuôi quốc tế (International Adoption) - một nội dung trọng yếu của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài đang ngày càng trở nên gần gũi với người Việt Nam - không chỉ trong mà cả ngoài giới luật, chẳng phải người nơi thành thị mà tới tận chốn nông thôn. Tuy thế, một khuôn khổ pháp lý đủ sức dung dưỡng mục tiêu đảm bảo các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ được nhận nuôi dường như vẫn còn khá nhiều điều để trăn trở. Với tính chất quốc tế của loại hình cho và nhận con nuôi này, pháp luật quốc gia Việt Nam dù đã có một loạt quy định điều chỉnh cũng khó lòng vươn tới nơi xứ người để chở che cho con trẻ nước mình. Sự lựa chọn tích cực và đầy hiệu lực cho những vấn đề toàn cầu, trong đó có con nuôi quốc tế chính là ký kết, tham gia những thỏa thuận song và đa phương. Đặt trong bối cảnh ấy, gửi gắm một vài suy nghĩ về tính cần thiết của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (sau đây gọi là Công ước Lahaye 1993), đồng thời gợi mở những yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam chính là mục tiêu của bài viết này.


1. Về yêu cầu cấp bách đối với việc gia nhập Công ước Lahaye 1993 của Việt Nam


Thực trạng việc cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam


Về mặt lý thuyết, việc nuôi con nuôi quốc tế có thể diễn ra theo hai chiều: thứ nhất, cho người nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; thứ hai, công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. Thực tiễn cho thấy việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi chính là hoạt động mang tính chủ đạo. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tư pháp, chỉ trong 5 năm (từ 1994 -1999) có tới 9.322 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi; trong đó số trẻ em làm con nuôi tại Pháp là 3.407, chiếm trên 1/3 trẻ được nhận làm con nuôi tại Pháp[ii]. Tính trung bình cho đến này thì mỗi năm có khoảng 2000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi[iii] và số trẻ em được nhận mỗi năm một tăng cao. Như vậy, rõ ràng nhu cầu về việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoài là rất lớn và đang tiếp tục phát triển. Xét về nguồn trẻ em Việt Nam, với một đất nước đông dân - trên 85 triệu dân, hiện có tới trên dưới 27% dân số là trẻ em (chỉ mới tính từ 14 tuổi trở xuống)[iv]. Trong đó, số lượng trẻ em ở vào hoàn cảnh khó khăn như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không nơi nương tựa... chiếm một tỉ lệ khá lớn. Nhu cầu về một mái ấm gia đình, về những điều kiện tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần cho những đứa trẻ là rất đáng quan tâm xét từ góc độ xã hội. Vì lẽ đó, việc xem xét để giải quyết cho và nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không chỉ là đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài mà hơn hết chính là nhằm góp phần tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Việt Nam.


Khung pháp luật hiện hành điều chỉnh việc nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam


Để hiệu chỉnh quan hệ nuôi con nuôi quốc tế, rõ ràng pháp luật chính là công cụ mang tính hiệu quả và hiệu lực nhất. Pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế hiện hành ở Việt Nam gồm có hai nguồn: nguồn quốc tế và nguồn quốc gia. Ở nguồn quốc tế, trong 15 Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với các nước thì có khá nhiều Hiệp định đã đề cập ở mức độ nhất định về vấn đề nuôi con nuôi quốc tế. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến 13 hiệp định về hợp tác nuôi con nuôi (Agreement on mutual cooperation concerning adoption) mà Việt Nam đã ký liên quan tới 10 nước[v]. Về phía pháp luật quốc gia, vấn đề nuôi con nuôi quốc tế hiện được quy định tại các văn bản như: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/07/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP; Thông tư của Bộ Tư pháp số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; và Thông tư của Bộ Tư pháp số 08/2006/TT-BTP ngày 08/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Bỏ qua những đánh giá mang tính chi tiết về từng quy định đối với quan hệ nuôi con nuôi quốc tế trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (phần này sẽ được làm rõ hơn khi bàn về những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi gia nhập Công ước Lahaye 1993) thì điểm nổi bật nhất có thể thấy là khả năng hạn chế trong việc điều chỉnh hoạt động cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Pháp luật Việt Nam chỉ tỏ rõ hiệu lực của mình chủ yếu ở phần đầu của quá trình cho nhận con nuôi ấy - về điều kiện của người nhận nuôi, của con nuôi, rồi thủ tục cho nhận... Còn đối với phần sau của quá trình nuôi con nuôi quốc tế (vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của đứa trẻ trong mối quan hệ với bố mẹ nuôi ở nước mà nó cư trú) - sau khi trẻ em Việt Nam đã được bàn giao cho bố mẹ nuôi thì gần như pháp luật Việt Nam không thể phát huy giá trị hiệu lực của nó xuất phát từ nguyên lý cơ bản về hiệu lực của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia - chỉ có giá trị trên lãnh thổ của mình. Trong khi đó, các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoài cũng chỉ dừng lại ở mức độ quy định về vấn đề luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế. Các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế dù đã đi xa hơn và hiệu quả hơn khi thiết lập các cơ chế hỗ trợ song phương trong việc đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp cho đứa trẻ ngay cả khi nó đã được chuyển ra nước ngoài sinh sống, nhưng lại hạn chế ở hai điểm căn bản: thứ nhất, các hiệp định hợp tác nuôi con nuôi vẫn chưa thực sự là một khung pháp lý đầy đủ để chi phối được rộng khắp các vấn đề có thể phát sinh trong nuôi con nuôi quốc tế; thứ hai, các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế hiện nay rõ ràng vẫn là những thỏa thuận riêng lẻ giữa Việt Nam với từng nước cụ thể, trong khi số lượng các nước có hiệp định với Việt Nam lại chỉ có thể đếm trong lòng bàn tay.


Về lợi ích của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993


Để nói về sự cần thiết của việc gia nhập Công ước, ngoài việc làm rõ thực trạng quan hệ nuôi con nuôi quốc tế, khả năng hiệu chỉnh của pháp luật hiện hành, rõ ràng cần phải đánh giá tính hiệu quả của việc trở thành thành viên. Nếu đặt vấn đề một cách chuyên nghiệp, chúng ta cần một sự xem xét tương tự như việc phân tích chính sách khi ban hành luật - trong đó cần sử dụng một công cụ hữu dụng như đánh giá tác động pháp luật - RIA (Regulatory Impact Assessment). Không quá tham vọng trong phạm vi một bài viết nhỏ, thử điểm qua những “được, mất” của việc gia nhập Công ước Lahaye 1993 trên vài khía cạnh căn bản như: kinh tế, xã hội và bảo vệ quyền con người. Xem xét lợi ích kinh tế của việc gia nhập Công ước về một lĩnh vực chủ yếu mang tính chất xã hội như nuôi con nuôi quốc tế dường như là điều không tưởng. Dẫu rằng Công ước không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho các bên trong quan hệ nuôi con nuôi quốc tế, nhưng nếu tìm hiểu đến tận cùng có thể tìm thấy những lợi ích nhất định cho quốc gia thành viên: đó là với một chi phí nhỏ cho việc đáp ứng các yêu cầu cần thiết của việc gia nhập, quốc gia thành viên có thể tiết kiệm một khoản kinh phí lớn cho việc tạo dựng khuôn khổ pháp lý quốc tế khá hoàn thiện và có phạm vi ảnh hưởng rộng[vi] hiệu chỉnh lĩnh vực này - ví như tiết kiệm kinh phí trong đàm phán, ký kết từng điều ước song phương đơn lẻ. Lợi ích về khía cạnh xã hội thực sự nổi trội khi xem xét việc công nhận Công ước Lahaye 1993. Cụ thể là việc gia nhập sẽ giúp tạo dựng một cách tốt nhất cuộc sống riêng (về vật chất lẫn tinh thần) của những đứa trẻ gặp phải hoàn cảnh khó khăn (như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, mắc bệnh hiểm nghèo...). Cũng không thể không nhắc đến khía cạnh bảo vệ quyền con người từ việc gia nhập Công ước. Quyền con người là một vấn đề mang tính trọng yếu, được đề cao trên phạm vi toàn cầu. Dù còn nhiều tranh luận khác nhau về nội hàm của khái niệm quyền con người, nhưng đã có sự thống nhất cao trong việc coi các quyền trẻ em như một phần quan trọng của quyền con người[vii]. Như thế thì việc đảm bảo cho những đứa trẻ có được điều kiện sống tốt, có được nơi che chở, giáo dưỡng cũng là một đòi hỏi thiết yếu của quyền con người. Gia nhập Công ước - với một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh rất hợp lý (sẽ được bàn sâu thêm ở phần sau) rõ ràng sẽ góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ quyền con người.


2. Những yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước Lahaye 1993


Ngày 29/05/1993, tại khoá họp lần thứ 17 Hội nghị Lahaye về tư pháp quốc tế, các thành viên dự họp đã nhất trí thông qua Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Đây là Công ước đầu tiên mang tính phổ cập và quan trọng nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Công ước ngoài lời nói đầu, gồm 48 điều, đề cập trên 7 vấn đề chính là: phạm vi áp dụng; các yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi quốc tế; cơ quan trung ương của mỗi quốc gia phụ trách về nuôi con nuôi quốc tế; thủ tục cho, nhận con nuôi quốc tế; công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi; quy định chung; và những điều khoản cuối cùng. Có thể nói Công ước đã tạo dựng một khuôn khổ pháp lý bao quát và hiệu lực - mở ra khả năng hiệu chỉnh vấn đề nuôi con nuôi quốc tế không chỉ ở giai đoạn đầu của việc cho - nhận mà còn cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong quá trình được nhận nuôi.


Cho dẫu thế, đối chiếu với những quy định của Công ước thì việc gia nhập cũng đòi hỏi Việt Nam phải có những điều chỉnh pháp luật trong nước cho tương thích (bởi vì Công ước Lahaye 1993 không chấp nhận bất cứ một bảo lưu nào khi gia nhập - Điều 40), đó là:


Thứ nhất, về quan hệ pháp lý giữa ba bên: bố mẹ nuôi - con nuôi - bố mẹ đẻ. Theo Công ước Lahaye 1993, có mở ra khả năng về việc chấm dứt quan hệ pháp lý trước đó giữa cha mẹ đẻ với trẻ em đã được nhận làm con nuôi. Theo quy định tại Điều 26 Công ước Lahaye 1993, nếu pháp luật quốc gia ký kết nơi thực hiện việc nuôi con nuôi quy định rằng quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ với trẻ em được nhận làm con nuôi sẽ chấm dứt thì điều đó sẽ được tuân thủ. Tuy nhiên, các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành lại không mở ra khả năng như vậy, mà cho thấy vẫn tồn tại song song hai mối quan hệ pháp lý: cha mẹ nuôi - con nuôi và con nuôi - cha mẹ đẻ. Quan hệ cha mẹ đẻ - con nuôi vẫn được pháp luật Việt Nam khẳng định cả ở khía cạnh quan hệ tài sản và nhân thân. Chẳng hạn, trẻ vẫn tiếp tục được thừa kế tài sản của cha mẹ đẻ, hay con liệt sĩ dù đã làm con nuôi người khác, nhưng vẫn tiếp tục được công nhận là con của gia đình có công. Dĩ nhiên, cần nhấn mạnh rằng nếu chúng ta vẫn giữ các quy định như vậy thì cũng không phải là một sự vi phạm Công ước Lahaye 1993 nếu chiếu theo quy định tại Điều 27[viii] - theo đó, kể cả khi quốc gia gốc không quy định về việc chấm dứt quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ - con nuôi thì sự chấm dứt quan hệ này vẫn được công nhận nếu pháp luật của quốc gia nhận con nuôi quy định phải chấm dứt quan hệ và có được sự đồng ý của những người liên quan (đã chỉ rõ tại mục c và d Điều 4). Tuy nhiên, việc duy trì các quy định này sẽ gây khó khăn cho việc chấm dứt quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ - con nuôi bởi vì nó đòi hỏi thêm điều kiện về sự đồng ý của những người liên quan; hơn nữa sẽ tạo ra những rắc rối pháp lý cho trường hợp chúng ta là quốc gia nhận con nuôi - bởi vì rõ ràng pháp luật Việt Nam không quy định về việc chấm dứt quan hệ này, do đó nó đương nhiên tồn tại.


Thứ hai, về độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế. Theo quy định của Công ước Lahaye 1993 thì trẻ em có thể được nhận làm con nuôi là những người dưới 18 tuổi. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chủ yếu chỉ giải quyết việc cho làm con nuôi quốc tế đối với trẻ em dưới 15 tuổi. Trẻ em từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ được làm con nuôi quốc tế nếu thuộc diện trẻ em tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự[ix].


Thứ ba, về cơ quan có thẩm quyền quyết định việc cho - nhận con nuôi quốc tế. Công ước Lahaye 1993 quy định các quốc gia phải chỉ định một Cơ quan trung ương có thẩm quyền để thực hiện việc cho - nhận con nuôi quốc tế, cơ quan này không chỉ là đầu mối về thông tin mà còn quyết định việc cho - nhận con nuôi quốc tế. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam hiện hành (thể hiện rõ nhất ở Luật hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành) thì thẩm quyền cho - nhận con nuôi quốc tế lại thuộc về các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với trường hợp cho - nhận trẻ em ở khu vực biên giới với các nước láng giềng thì thuộc về các Ủy ban nhân dân cấp xã. Có lẽ để phù hợp với Công ước, Cơ quan trung ương được chỉ định của Việt Nam nên là Bộ Tư pháp[x].


Ngoài ba vấn đề then chốt nói trên, cũng cần có những hiệu chỉnh cần thiết pháp luật trong nước về các vấn đề như: sự đồng ý của người mẹ đẻ trong việc cho con nuôi (Mục c Điều 4 Công ước); hay thời kỳ thử thách đối với bố mẹ nuôi (Điều 21 Công ước)[xi].


3. Đôi dòng kết luận


Không chỉ là lợi ích có được về một khuôn khổ pháp lý quốc tế khá hoàn thiện về nuôi con nuôi quốc tế, gia nhập Công ước Lahaye 1993 thực sự còn là đòi hỏi thực tế của việc thiết lập mối quan hệ hợp tác nuôi con nuôi với một số nước quan trọng, có nhu cầu lớn[xii]. Gia nhập Công ước này mang lại quá nhiều cái được, một số việc phải làm như hiệu chỉnh các quy định pháp luật hiện hành đã nói ở trên cũng không phải là quá khó khăn, thậm chí nó còn góp phần hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với các nước. Việc gia nhập Công ước Lahaye 1993 đã được đặt ra từ những năm 90 của thế kỷ 20 - 18 năm cho một sự chuẩn bị có lẽ đã quá đủ để chúng ta trở thành thành viên chính thức của Công ước. Những động thái mạnh mẽ của Chính phủ và Ủy ban thường vụ Quốc hội để gia nhập Công ước Lahaye 1993 trong thời gian qua dường như đang cho thấy tính hiện thực của niềm tin ấy[xiii].










[i] ThS, Giảng viên, Thư ký Trung tâm nghiên cứu pháp luật Châu Á - Thái Bình Dương, Đại học Luật Hà Nội (Bài viết sẽ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội, số Tết - 2009)



[ii] xem “Pháp luật tương trợ tư pháp quốc tế”, Vụ pháp luật quốc tế - Bộ Tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 11.



[iii] xem bài “Siết chặt kiểm soát hồ sơ cho con nuôi người nước ngoài”, đăng trên địa chỉ website: http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/07/3BA04D54/.



[iv] xem “Báo cáo điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình” ngày 01/04/2005 của Tổng cục Thống kê (website: www.gso.gov.vn).



[v] Đó là các Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam với: Pháp (01/02/2000), Đan Mạch (26/05/2003), Italia (13/06/2003), Ailen (23/09/2003), Thụy Điển (04/02/2004), 3 cộng đồng ngôn ngữ thuộc Vương quốc Bỉ (17/03/2005), Mỹ (21/6/2005), Canada (27/06/2005), Bang Québec - Canada (15/09/2005), Thụy Sĩ (20/12/2005) và Tây Ban Nha (05/12/2007).



[vi] hiện nay số quốc gia thành viên của Công ước đã là 75.



[vii] xem “Human rights in developing countries”, YearBook 1994, edited by Peter Baehr, Hilde Hey, Jacqueline Smith, and Theresa Swinehart, Kluwer Law and Taxation Publishers, Nordic Human Rights Publications.



[viii] trong một số bài nghiên cứu và báo chí, một số chuyên gia cho rằng việc quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ - con nuôi là mâu thuẫn với Công ước Lahaye 1993. Việc nhận định như vậy e rằng hơi quá mức!



[ix] xem khoản 1 Điều 36 Nghị định 69/2006/NĐ-CP.



[x] Tờ trình của Chính phủ về việc gia nhập Công ước Lahaye 1993 của Việt Nam cũng đã dự kiến như vậy (xem bài viết về “Phiên họp thứ 10 Ủy ban thường vụ Quốc hội” của tác giả Khánh Vân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13/2008, Văn phòng Quốc hội).



[xi] Có thể xem thêm bài viết “Một số vấn đề cần giải quyết khi Việt Nam gia nhập Công ước Lahaye năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước”, ThS. Nguyễn Hồng Bắc, Tạp chí Luật học số chuyên đề 3/2003 - ĐH Luật Hà Nội.



[xii] Trường hợp Mỹ là một điển hình, bởi lẽ Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Mỹ sẽ chính thức hết hiệu lực vào ngày 1/9/2008. Thế nên, trong bối cảnh Mỹ vừa mới chính thức chịu sự hiệu chỉnh của Công ước Lahaye 1993 từ năm 2008 thì việc Việt Nam gia nhập Công ước Lahaye 1993 sẽ tiếp tục tạo dựng được một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh chung giữa hai nước về vấn đề này.



[xiii] xem thông tin từ bài viết “Phiên họp thứ 10 Ủy ban thường vụ Quốc hội” của tác giả Khánh Vân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13/2008, Văn phòng Quốc hội.