Monday, July 2, 2007

"Cánh đồng bất tận" và "Dòng sông tật nguyền" - Cần chia sẻ hơn là lên án!




"Cánh đồng bất tận" và "Dòng sông tật nguyền"

- Cần chia sẻ hơn là lên án!

Nguyễn Bá Bình

Thạc sỹ luật học - ĐH Luật Hà Nội

Tôi vốn không phải là dân văn chương chuyên nghiệp - có viết lách, nhưng cũng chỉ để thoả niềm đam mê, chứ không coi đó là cái nghiệp của mình. Vì thế, lúc mới nghe dư luận xôn xao về cái gọi là "tranh chấp", "đạo văn" giữa "Cánh đồng bất tận" và "Dòng sông tật nguyền" thì cũng xem như chuyện thường ngày trong giới văn hoá nghệ thuật nước nhà (vì đã có nhiều chuyện quá rồi: từ "nụ hôn của gió" trong vụ tranh cổ động, cho tới việc một loạt tác phẩm bị sao chép). Nhưng rồi, nghe riết đâm ra phải để tâm, và rồi một ngày kia câu chuyện này được lên cả thời sự VTV1 nữa thì thực sự tôi để ý - để ý và rồi tìm đọc cả 2 truyện ngắn, tìm đọc vô số trang viết về việc "đạo văn" có hay không? Không phải là dân văn chương, như đã nói, nhưng tôi lại sống bằng nghề luật và lỡ đam mê vào lĩnh vực quyền tác giả, nên càng đọc các ý kiến lại thấy càng mê - và rồi bức xúc quá, vì muốn nói, muốn trải lòng mình, đâm ra phải gửi vào những trang giấy này vậy. Cũng nói thêm rằng, đây chỉ là quan điểm cá nhân tôi và cũng như tác giả Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thanh Khương, tôi không biết gì về họ và chắc rằng họ cũng không rõ gì hơn về tôi - vì lẽ đó tiếng nói của tôi chỉ là tiếng nói góp vào dòng dư luận, chứ không vì mục đích bênh vực cho ai, ai đúng ai sai, hay chẳng ai sai ai đúng thì chỉ có bạn đọc mới có thể phán xét được mà thôi!

Như đã đọc và cũng giống nhiều ý kiến khác trên khắp các trang viết, điểm giống nhau mà người ta nhận ra ở "Cánh đồng bất tận" và "Dòng sông tật nguyền" (điều này cả hai tác giả có lẽ cũng đã đồng tình ở dưới nhiều cách nói khác nhau trước công luận) đó là về mô típ của câu truyện, về cốt truyện. Còn rõ ràng về lời văn thì không hề tìm thấy sự sao chép lẫn nhau. Vì thế, lẽ dĩ nhiên điều mà tôi bàn tới ở đây cũng dựa trên những nhận định chung đó.

Trước hết, dưới góc độ luật học, chúng tôi cho rằng dù môtíp câu chuyện, cốt truyện có giống nhau đến 100% thì xét dưới góc độ pháp luật về quyền tác giả cũng không hề có bất cứ sự vi phạm nào. Bởi lẽ, luật quyền tác giả không bảo hộ về mặt ý tưởng của tác phẩm văn học nghệ thuật (ý tưởng ở đây được hiểu bao hàm cả vấn đề môtíp câu chuyện, cốt truyện), mà chỉ bảo hộ cách diễn đạt về câu từ, hình thức biểu hiện tác phẩm. Vì lẽ đó, chỉ khi các tác phẩm có sự sao chép về mặt câu từ thì mới có thể kết luận liệu có sự vi phạm luật quyền tác giả hay không - mà như dân chúng vẫn thường gọi với cái từ thông dụng, nhưng "đau hơn" đó là "đạo văn" hay không? Đọc hai tác phẩm "Cánh đồng bất tận" và "Dòng sông tật nguyền" dĩ nhiên không hề thấy có sự sao chép câu từ nào giữa hai tác phẩm (dù chỉ là một đoạn nhỏ), các nhà văn, các nhà phê bình và độc giả cũng không ai cho rằng có sự trùng lặp về câu từ. Vậy thì rõ ràng nhiều người kết luận có "đạo văn", có vi phạm bản quyền ở đây e rằng là sự phát biểu quá cảm tính và cần phải suy ngẫm lại.

Dưới góc độ đời thường (chúng ta thôi bàn chuyện luật học - bởi lẽ người ta vẫn hay cho rằng luật nhiều khi không phản ảnh đúng thực tế, cho dù tư tưởng luật bản quyền như thế đã ra đời cách đây 6 - 7 thế kỷ và cả thế giới đều quan niệm vậy), chúng tôi muốn xem xét vấn đề một cách trực diện hơn để xem liệu chúng ta nên chia sẻ hay lên án khi có hai tác phẩm giống nhau về môtíp câu chuyện: giả định rằng Phạm Thanh Khương đã đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và ông quyết định đi theo môtíp câu chuyện của "Cánh đồng bất tận" thì sao? Tôi cho rằng điều đó là rất bình thường. Bởi lẽ giá trị của một tác phẩm luôn được thể hiện ở hai phương diện: cốt truyện và cách diễn tả cốt truyện (sự sắp đặt về ngôn từ). Vì lẽ đó, nếu như vẫn với cốt truyện cũ, một người có thể diễn đạt bằng một giọng văn hay hơn thì thậm chí chúng ta phải hoan nghênh chứ sao?! Còn nếu cứ với một định kiến rằng, một người đã tạo ra một cốt truyện thì người khác không thể viết theo cốt truyện đó nữa thì thực sự đã hạn chế khả năng sáng tạo của những người khác (đấy có lẽ cũng là lý do để luật bản quyền không bảo hộ về mặt ý tưởng). Trong vụ việc này, đa phần ý kiến đều cho rằng truyện của Phạm Thanh Khương không hay bằng truyện của Nguyễn Ngọc Tư, nhưng vấn đề sẽ thế nào nếu như vẫn với quan điểm đó, chúng ta đánh tráo "Cánh đồng bất tận" là của Phạm Thanh Khương, còn "Dòng sông tật nguyền" là của Nguyễn Ngọc Tư - như thế thì có nghĩa là tác phẩm sau đã phát triển hơn, hay hơn so với tác phẩm trước, và điều đó lẽ ra đáng phải hoan nghênh chứ! Dĩ nhiên nó không phải là một sự so sánh tròn trịa, nhưng việc chúng ta lên án một tác phẩm khác viết giống môtíp một tác phẩm trước đó, cũng chẳng khác gì sự vô lý khi chúng ta ngăn một ca sĩ trẻ hát lại một bài hát như "Làng lúa làng hoa" mà NSND Thanh Hoa đã biểu diễn rất thành công. Triết lý của cuộc đời về câu chuyện văn chương là ở chỗ người ta không nhất thiết cấm nhau học theo môtíp câu chuyện - không cần vậy, bởi một lẽ rất đơn giản: nếu anh học theo môtíp câu chuyện của người khác mà không thể vượt qua họ về cách diễn đạt câu chuyện thì chỉ có thể là thất bại. Học theo môtíp của một câu chuyện đã nổi rõ ràng chẳng có ai lại "dại khờ" muốn che giấu môtíp đó (bởi có che giấu cũng chẳng được), có chăng sự thành công có hay không nằm ở cách thể hiện mới của mình. Vì thế, tôi không biết Phạm Thanh Khương tình cờ trùng lặp môtíp, hay đã từng đọc "Cánh đồng bất tận" và bị ảnh hưởng, nhưng tôi chỉ nghĩ rằng nếu ông không vượt qua được cách kể chuyện trong "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư thì đó đã là một sự không thành công đối với bản thân ông. Còn việc nếu ông biết và quyết tâm đi theo môtíp của một câu chuyện đã sớm "xôn xao dư luận" như "Cánh đồng bất tận" thì xem ra đó cũng là chuyện bình thường, thậm chí về một góc độ nào đó tôi cho rằng thoát được cái bóng của "Cánh đồng bất tận" đã là một thành công lớn của ông và điều đó đáng biểu dương hơn là lên án (bởi lẽ nếu chúng ta không mang tâm trạng - như Nguyễn Ngọc Tư từng phát biểu, là nghĩ rằng chúng có sự giống nhau khi đọc 2 tác phẩm này thì chưa chắc đã cho rằng chúng giống nhau!).

Nói đi rồi cũng phải nói lại, đọc nhiều, rồi chợt nghĩ, một mai này nếu giới văn chương nước nhà lại rộ lên câu chuyện một ai đó học theo môtíp câu chuyện của người khác thì sao nhỉ? Lúc đó chỉ hy vọng rằng, chúng ta sẽ chỉ nói về việc tác phẩm sau có vượt lên được "cái tầm" của tác phẩm trước hay không, còn câu chuyện "đạo văn" hy vọng rằng chỉ được bàn tới nếu ai đó tìm thấy những sự sao chép về mặt câu chữ, ngôn từ! Mong lắm sao!

(Bài viết đã đăng trên Tạp chí Thế giới pháp luật, 2006 - Nxb Tư pháp - Bộ Tư pháp)

Friday, June 29, 2007

Từ WTO nghĩ về nền giáo dục nước nhà!




Từ WTO nghĩ về nền giáo dục nước nhà!

ThS. Nguyễn Bá Bình - ĐH Luật Hà Nội

(Bài viết cho TGPL số tết âm lịch)

Sau 11 năm đàm phán đầy khó khăn thì sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) kể từ ngày 11/01/2007 đưa lại cho người dân nhiều niềm vui khi vị thế nước nhà ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế. Nhưng như một lẽ thường tình, đằng sau mỗi nụ cười của thành công vẫn luôn ẩn hiện những nếp nhăn trên trán, WTO cũng vậy - hai cụm từ song hành như đôi uyên ương khi người ta nói về tổ chức này đó là "thời cơ" và "thách thức". Giải bài toán để biến những "cơ hội" thành hiện thực và hoá giải "thách thức" với đáp số "cùng thắng" trong kinh tế thời hội nhập có lẽ không kém phần khó khăn so với giải bài toán Fecma trong toán học. Vì lẽ đó, mặc dù không thể tính được đã có bao nhiêu bài viết của cả các chuyên gia trong và ngoài nước, từ các nhà kinh tế học, luật học, sử học… cho tới các nhạc sỹ, nhà văn… nhưng dường như WTO vẫn còn khá mông lung và mờ mịt như những tảng mây mù trên sân vận động Old Trafford của xứ sở Anh quốc.

Nói về WTO, người ta cũng sớm dự liệu về những ngành sẽ gặp nhiều khó khăn như ngân hàng, kiểm toán, viễn thông, phân phối và những ngành có nhiều cơ hội để phát triển như nông sản hay dệt may… Những dự liệu đó dựa nhiều vào thực lực của các ngành hiện có và những cam kết về mở cửa của chúng ta. Nhưng rõ ràng, cạnh tranh trong WTO là một chặng đường dài, đầy cam go - nó như một giải đấu lớn của bóng đá, chứ không đơn thuần chỉ là một vài trận đấu giao hữu. Vậy đâu sẽ là sức mạnh giúp chúng ta đứng vững và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên sân đấu này? Có lẽ chúng ta sẽ không tìm về sức mạnh từ nhân công rẻ hay tài nguyên dồi dào (?) và sự giúp đỡ của Chính phủ (nếu có, trên cơ sở phù hợp với WTO) cũng không thể so sánh với những ông lớn như Mỹ hay Nhật. Trong thời kỳ kinh tế tri thức nơi mà tri thức mới là nguồn vốn vô hạn và có giá trị lớn lao thì có thể nói sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia phải bắt nguồn từ sức mạnh của tri thức. Mỗi hàng hóa, dịch vụ được kết tinh giá trị từ nhiều thành tố, trong đó hai thành tố cơ bản là nguyên vật liệu và tri thức. Vậy thì trong thời đại mà giá trị của tri thức được tôn vinh thì rõ ràng tri thức chính là yếu tố then chốt của cạnh tranh. Để Việt Nam thực sự có chỗ đứng vững chắc trong một nền kinh tế đang thay đổi như vũ bão và để chiến lược cạnh tranh của Việt Nam không giống như việc "xây nhà từ trên nóc" thì yếu tố tiên quyết chính là tạo dựng nguồn tri thức có giá trị cho nền kinh tế Việt Nam. Gốc rễ của tri thức lại khởi nguồn từ sản phẩm của giáo dục. Nếu vậy bài toán của thời hội nhập cần phải lấy giáo dục làm cốt lõi.

Tìm về nền giáo dục nước nhà, lại thấy đây đó bàn nhiều về xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế. Liệu điều này có là quá xa xôi như câu chuyện bóng đá Việt Nam mơ về Worldcup? Câu hỏi được đặt ra không phải là không có cơ sở. Thôi thì không hiểu cái "đẳng cấp quốc tế" được người ta đưa vào trong giấc mơ về các trường đại học Việt Nam được hiểu ra sao, nhưng theo tôi cũng giống như xếp hạng trong thể thao, để là một đại học đẳng cấp quốc tế thì có lẽ cũng phải nằm trong Top các trường đại học hàng đầu trên thế giới. Nhưng hãy nhìn vào bảng xếp hạng 100 trường đại học hàng đầu thế giới do các tạp chí bình chọn để xem mục tiêu của chúng ta có xa vời quá chăng? Chẳng hạn năm nay với 100 trường hàng đầu thế giới do tạp chí Newsweek bình chọn, nhìn vào những cái tên trong đó và ngẫm tới mình e rằng đó còn là một khoảng cách quá xa; thêm nữa, liệu khi mình đuổi theo họ thì họ có chờ mình hay là mình đi được 1 họ đã đi được 2, 3. Không hiểu khi đưa ra chủ trương xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế chúng ta đã nhìn thử xem mình đang ở đẳng cấp nào hay chưa. Bởi lẽ nếu ở đẳng cấp khu vực hay châu lục còn chưa ổn thì đưa ra mục tiêu vậy e rằng quá mơ hồ. Theo thiển nghĩ của tôi, để có nguồn tri thức tốt phục vụ cho đất nước, quan tâm đầu tư cho giáo dục, đặc biệt ở bậc đại học là hết sức cần thiết và tối quan trọng, nhưng đặt mục tiêu chiến lược thế nào thì cần phải cân nhắc từ nhiều phía. Nghĩ về chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà, bất chợt tôi nhớ lại câu nói của Giáo sư Thomas Vallely - Giám đốc chương trình Việt Nam của Đại học Harvard (bài phát biểu tại phiên thảo luận "Giáo dục Việt Nam - Nguồn lực và cơ hội" trong khuôn khổ hội nghị khoa học của các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Mỹ năm 2006) khi nói về giáo dục Việt Nam: Nhu cầu tri thức của Việt Nam là yếu! Nhận định này chính là cơ sở đầu tiên để chúng ta xem xét nền giáo dục nước nhà. Không nghi ngờ gì nữa, giáo dục là một loại dịch vụ, sản phẩm của nó là tri thức của những người học và sản phẩm đó sẽ được xã hội sử dụng. Vậy thì nếu bên Cầu (xã hội) không có nhu cầu sử dụng sản phẩm của bên Cung (các cơ sở giáo dục) thì rõ ràng sẽ tạo nên sự vênh ở đây, nghĩa là người học chỉ đi học vì bằng cấp chứ không vì tri thức. Như vậy, để giải quyết rốt ráo vấn đề này thì cần phải xuất phát từ hai phía: thay đổi thái độ của bên Cầu và nâng cao chất lượng sản phẩm của bên Cung. Nó cũng giống như chiến lược bán hàng của một sản phẩm. Khi sản phẩm của công ty không bán được thì có hai cách cơ bản để giải quyết vấn đề: một là, tìm cách làm thay đổi thái độ của người tiêu dùng để họ mua sản phẩm của mình (ví dụ quảng bá, tiếp thị, khuyến mại…) và hai là nâng cao chất lượng của sản phẩm để thu hút người tiêu dùng. Nhìn về thực trạng của nền giáo dục, trước hết về chất lượng sản phẩm đào tạo thì một thực tế cần phải được thừa nhận là rất nhiều sinh viên ra trường không thích nghi được với công việc hoặc phải đào tạo lại trong một thời gian nhất định. Còn về thái độ của xã hội thì không chỉ trong khối các cơ quan nhà nước mà còn trong cả các thành phần kinh tế khác việc tuyển dụng nhiều khi còn bắt nguồn từ "quan hệ thân quen" chứ không phải từ "thực lực của người được tuyển dụng", có nghĩa là trong rất nhiều trường hợp xã hội không quan tâm đến chất lượng của sản phẩm mà mình sử dụng. Về yếu tố thứ hai - thái độ của xã hội, chắc chắn rằng với áp lực và những thách thức mà WTO mang lại cho cả Chính phủ và doanh nghiệp thì thái độ trong việc sử dụng tri thức sẽ được thay đổi. Như vậy, câu chuyện của nền giáo dục hiện nay là giải quyết vấn đề thứ nhất - nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, việc nâng cao đó phải được tiến hành theo từng bước trên cơ sở các điều kiện hiện có của đất nước, chứ không phải là đặt ra một mục tiêu quá cao và quá mơ hồ. Bởi vì, nhìn về những yếu tố để xếp hạng các trường đại học hàng đầu trên thế giới như số lượng các nhà nghiên cứu cao cấp, số lượng bài viết đăng trên các tạp chí có uy tín, tỉ lệ phần trăm khoa chuyên về quốc tế, số lượng sinh viên quốc tế và số lượng đầu sách trong thư viện thì để có được một chỗ đứng trong top 100 trường này có lẽ vẫn còn là "chặng đường gian nan". Khi mà vị tân Bộ trưởng còn hứa đến 2010 giáo viên sẽ sống được bằng lương thì chính điều đó cũng cho thấy rằng nâng cao chất lượng giáo dục của Việt Nam cần phải được làm từng bước một. Ông cha ta có câu: "có thực mới vực được đạo"!

Thursday, June 21, 2007

Sydney, ngắn thời gian và dài cảm nhận!




Sydney, ngắn thời gian và dài cảm nhận!

3 tháng ở Sydney, chỉ còn 3 ngày nữa để trở về, cũng là lúc tôi chợt nhận ra mình còn một món nợ phải trả - trải một vài dòng cảm nhận, có lẽ là không đủ để nói hết về những gì tôi đã thấy, những người tôi đã gặp, những gì đã nghĩ suy, đã vui, đã buồn! Dẫu sao trong "hằng hà sa cảm xúc ấy" vẫn cần "chiết xuất" một đôi điều để sẻ chia!

"Sydney, ngắn thời gian - dài cảm nhận", không ưa chơi chữ, nhưng có lẽ chỉ còn cách này để khái quát nên những gì tôi cảm nhận về Sydney! 3 tháng so với đời người, với những nơi tôi đã đi và sẽ đi thực sự không phải là dài, nhưng những cảm nhận của tôi trong 3 tháng ở Sydney thật nhiều: có những ngày buồn - ngồi một mình nhìn ra khung cửa sổ nhỏ và nghĩ lan man về cuộc đời; có những đêm buồn - thu mình bên bãi biển Coogee trong cái rét đậm của Sydney, một vài ly rượu để trôi trôi cảm xúc về miền ký ức... rồi những ngày vui lang thang cùng anh em trên Phố, Shopping và Shopping - điệp khúc đã trở nên quen với chúng tôi khi được lãng quên thời gian cùng chị em tìm kiếm trong ty tỷ mặt hàng và đồ lưu niệm, rồi những ngày dạo chơi tới vùng rừng xanh thẳm Blue Mountain và lâng lâng cảm xúc trong câu chuyện tình yêu của 3 chị em gái để hiểu thêm truyền thuyết hòn núi 3 sisters và lại nhớ về nàng Tô Thị xứ mình; rồi nữa, kỷ niệm về những ngày vượt qua hơn 3h đồng hồ trên xe để đến với Thủ đô Canberra, ngắm nhìn Parliement House và nhớ về những ngày dự khán Quốc hội Việt Nam!

"Sydney, ngắn thời gian - dài cảm nhận", trong những ngày lang thang ấy, tôi chợt hiểu hơn về những người bạn đồng hành và cả những con người nơi đây. Họ quá trở nên thân thiết, tôi đã nghe nói về một đất nước Úc đa dạng văn hóa, nhưng với tôi dường như nước Úc còn ấn tượng hơn về tình yêu con người - thân thiện nhưng không suồng sã, quá đủ để yêu và mến, phải không?

Những người bạn tôi, sẽ không có nhiều thời gian để sẻ chia nữa, chúng tôi lại tiếp tục mải miết trên con đường sự nghiệp và cuộc sống riêng của mình, nhưng 3 tháng ở Sydney sẽ chiếm trong lòng của không chỉ tôi mà cả họ một chỗ đứng thật vững chắc và đầy ấn tượng!

Sydney, 3 ngày nữa để hồi tưởng về những gì của 3 tháng qua, mơ ước gì ư... tôi không muốn mơ ước như lời một bài hát đã yêu mến ngày xưa "nếu có ước muốn trong cuộc đời này, hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại", tôi mơ sẽ lại có những ngày tháng tiếp theo thú vị như ở Sydney để con người lại được sống với nhau theo đúng nghĩa của "tình yêu con người"! Có quá cao xa và tham lam không nhỉ?!

(UNSW Library)